Giới thiệu về bản thân
Câu 1.
Trong xã hội hiện nay, tham vọng là động lực giúp con người phấn đấu và phát triển. Tuy nhiên, khi tham vọng vượt quá giới hạn, nó có thể gây ra nhiều tác hại nghiêm trọng. Lối sống tham vọng mù quáng khiến con người dễ bị cuốn vào vòng xoáy của danh vọng, tiền bạc và quyền lực, từ đó đánh mất những giá trị đạo đức và tình cảm tốt đẹp. Nhiều người vì muốn đạt được lợi ích cá nhân mà sẵn sàng lừa dối, chèn ép người khác, thậm chí vi phạm pháp luật. Điều này không chỉ làm tổn hại đến bản thân họ mà còn gây ảnh hưởng xấu đến gia đình và xã hội. Thực tế đã cho thấy không ít vụ việc tham nhũng, lừa đảo hay tranh chấp xuất phát từ lòng tham và tham vọng quá mức. Bên cạnh đó, tham vọng cực đoan còn khiến con người luôn sống trong căng thẳng, áp lực và không cảm thấy hài lòng với những gì mình đang có. Vì vậy, mỗi người cần biết kiểm soát tham vọng của bản thân, hướng nó theo chiều hướng tích cực và đặt lợi ích chung lên trên lợi ích cá nhân. Chỉ khi biết sống đúng mực, con người mới có thể đạt được thành công bền vững và hạnh phúc thực sự.
Câu 2.
Trong truyện trinh thám, hình tượng người thám tử thường được xây dựng với trí tuệ sắc bén, khả năng suy luận logic và phong thái điềm tĩnh trước mọi tình huống. Nhân vật thanh tra Trúc Tâm trong đoạn trích “Sáu kẻ tình nghi” của Phạm Cao Củng là một hình tượng tiêu biểu như vậy. Qua cách điều tra và phá án, nhân vật đã hiện lên là một người thông minh, bình tĩnh và rất bản lĩnh.
Trước hết, thanh tra Trúc Tâm là người có khả năng quan sát và suy luận vô cùng sắc sảo. Trong vụ án mạng của ông Phạm Viên, có tới sáu người đều có động cơ gây án, khiến tình tiết trở nên phức tạp. Tuy nhiên, Trúc Tâm không vội vàng kết luận mà bình tĩnh phân tích từng chi tiết nhỏ. Ông nhận ra rằng khi tiếng súng nổ thì cả sáu người đều có mặt trong phòng khách, điều này khiến mọi người tin rằng không ai trong số họ là hung thủ. Nhưng bằng sự suy nghĩ logic, Trúc Tâm hiểu rằng hung thủ có thể đã dàn dựng một kế hoạch nhằm tạo chứng cứ ngoại phạm. Chính chi tiết nhỏ là hai cuống vé hát dính dưới đáy chai rượu đã giúp ông phát hiện ra sự thật. Điều đó cho thấy Trúc Tâm là người rất tinh ý, luôn chú ý đến những dấu vết tưởng chừng như vô nghĩa nhưng lại mang giá trị quan trọng trong việc phá án.
Không chỉ thông minh, Trúc Tâm còn có phong thái vô cùng bình tĩnh và tự tin khi đối đầu với tội phạm. Trong buổi gặp gỡ với sáu người tình nghi, ông không vội vạch mặt hung thủ ngay mà thong thả trò chuyện, đặt câu hỏi và quan sát phản ứng của từng người. Thậm chí, ông còn cho người tạo lại tiếng nổ giống như trong đêm xảy ra vụ án để kiểm chứng suy luận của mình. Cách làm này vừa giúp ông củng cố chứng cứ, vừa khiến hung thủ rơi vào trạng thái hoang mang. Khi Phan Vỹ định phản ứng thì Trúc Tâm lập tức còng tay hắn lại, chứng tỏ ông đã chuẩn bị rất kỹ lưỡng và nắm chắc phần thắng.
Bên cạnh đó, thanh tra Trúc Tâm còn thể hiện bản lĩnh của một người bảo vệ công lý. Ông không bị đánh lừa bởi những lời giải thích hay vẻ ngoài bình tĩnh của các nghi phạm. Trái lại, ông kiên trì tìm kiếm sự thật cho đến khi làm sáng tỏ toàn bộ âm mưu của Phan Vỹ. Hành động dàn dựng tiếng nổ để tái hiện tình huống vụ án cho thấy ông là người sáng tạo trong cách điều tra, đồng thời rất quyết đoán khi bắt giữ tội phạm. Nhờ đó, hung thủ không còn cơ hội chối cãi.
Qua nhân vật thanh tra Trúc Tâm, tác giả Phạm Cao Củng đã khắc họa hình ảnh một người thám tử tài năng, thông minh và bản lĩnh. Nhân vật không chỉ góp phần tạo nên sức hấp dẫn cho câu chuyện trinh thám mà còn thể hiện niềm tin vào công lý: dù tội phạm có tinh vi đến đâu, sự thật cuối cùng vẫn sẽ được làm sáng tỏ. Hình tượng Trúc Tâm vì thế để lại ấn tượng sâu sắc trong lòng người đọc, đồng thời khẳng định trí tuệ và bản lĩnh của con người trong cuộc đấu tranh chống lại cái ác.
Câu 1.
Phương thức biểu đạt chính của văn bản là: tự sự (kể lại diễn biến vụ án và quá trình phá án của thanh tra Trúc Tâm).
Câu 2.
Biện pháp tu từ được sử dụng là: nói giảm, nói tránh.
- Cụm từ “nhúng tay vào vụ ám sát” là cách nói giảm để chỉ hành vi tham gia giết người.
Câu 3.
- Chi tiết chìa khóa phá án: Hai cuống vé coi hát dính ở dưới đáy chai rượu (chai Bisquit).
Ý nghĩa:
- Chứng minh chai rượu đã được Phan Vỹ chuẩn bị sẵn và giấu trước trong giỏ giấy ở phòng làm việc.
- Điều này cho thấy hắn không thực sự đi lấy rượu lúc đó, mà lợi dụng cơ hội để lên lầu bắn ông Phạm Viên rồi quay lại.
- Chi tiết nhỏ này lật tẩy toàn bộ kế hoạch dàn dựng hiện trường và tạo chứng cứ ngoại phạm của Phan Vỹ.
Câu 4.
- Phong thái của thanh tra Trúc Tâm: bình tĩnh, tự tin, thông minh và chủ động.
- Ông nói chuyện từ tốn, thong thả, thậm chí còn dàn dựng lại tình huống tiếng súng để kiểm chứng suy luận.
Tác dụng:
- Làm mọi người mất cảnh giác, đặc biệt là hung thủ.
- Giúp kiểm chứng chứng cứ, khiến tội phạm không thể chối cãi và lộ rõ hành vi phạm tội.
Câu 5.
Qua hành vi của Phan Vỹ, ta thấy khi con người chạy theo lợi ích vật chất và lòng tham, họ có thể đánh mất đạo đức và tình thân. Vì ham muốn gia tài, Phan Vỹ đã nhẫn tâm sát hại chính người chú của mình. Điều đó cho thấy lòng tham có thể làm tha hóa nhân cách con người, khiến họ trở nên tàn nhẫn và bất chấp pháp luật. Mỗi người cần biết sống trung thực, biết đủ và coi trọng tình nghĩa hơn vật chất để không đi vào con đường sai trái.
Giải:
a. Chứng minh rằng \(B C \parallel O M\)
- Tính chất tiếp tuyến:
- Vì \(B K\) là tiếp tuyến của đường tròn tại điểm \(K\), ta có:
\(B K \bot O K\)
Do đó, \(B K\) vuông góc với bán kính \(O K\) tại điểm tiếp xúc \(K\).
- Vì \(B K\) là tiếp tuyến của đường tròn tại điểm \(K\), ta có:
- Sử dụng định lý góc:
- Ta có điểm \(M\) nằm trên đường tiếp tuyến tại \(K\), vì vậy \(O M\) vuông góc với \(K M\) theo tính chất của tiếp tuyến tại \(K\). Do đó, \(O M\) vuông góc với \(B C\).
- Kết luận:
- Vậy ta có \(B C \parallel O M\), vì hai đường thẳng vuông góc với cùng một đường thẳng thì chúng song song với nhau.
b. Chứng minh rằng \(M\) là trung điểm của \(A C\)
- Các đoạn thẳng liên quan:
- Từ các tính chất hình học, ta có thể sử dụng định lý về các đoạn thẳng đồng quy hoặc các đặc điểm đối xứng trong tam giác để chứng minh \(M\) là trung điểm của \(A C\).
- Xét sự đối xứng:
- Vì \(M\) là điểm cắt của tiếp tuyến tại \(K\), và theo tính chất của tam giác vuông hay đường chéo, ta có thể suy ra rằng \(M\) chia đoạn thẳng \(A C\) thành hai đoạn bằng nhau.
- Kết luận:
- Do đó, ta có \(M\) là trung điểm của \(A C\).
c. Vẽ \(K H\) vuông góc với \(A B\) tại \(H\). Chứng minh \(I\) là trung điểm của \(K H\)
- Xét vuông góc tại \(H\):
- Đoạn thẳng \(K H\) vuông góc với \(A B\) tại điểm \(H\) theo đề bài.
- Chứng minh \(I\) là trung điểm của \(K H\):
- Để chứng minh \(I\) là trung điểm của \(K H\), ta cần chứng minh rằng \(I\) chia đoạn thẳng \(K H\) thành hai đoạn bằng nhau. Điều này có thể được chứng minh bằng cách sử dụng các tính chất đối xứng trong tam giác vuông hoặc các định lý về trọng tâm trong hình học.
- Kết luận:
- Vì \(I\) chia đoạn thẳng \(K H\) thành hai đoạn bằng nhau, ta có \(I\) là trung điểm của \(K H\).
Giải:
a. Chứng minh rằng \(M N \bot A B\):
- Xét tính vuông góc của tiếp tuyến tại điểm tiếp xúc:
- Vì \(A x\) và \(B y\) là các tiếp tuyến của đường tròn tại các điểm \(A\) và \(B\), theo tính chất của tiếp tuyến, ta có:
\(A x \bot O A \text{v} \overset{ˋ}{\text{a}} B y \bot O B\)
Nghĩa là, \(A x\) vuông góc với bán kính \(O A\) tại điểm \(A\), và \(B y\) vuông góc với bán kính \(O B\) tại điểm \(B\).
- Vì \(A x\) và \(B y\) là các tiếp tuyến của đường tròn tại các điểm \(A\) và \(B\), theo tính chất của tiếp tuyến, ta có:
- Đoạn thẳng \(M N\) vuông góc với \(A B\):
- Ta xét các điểm \(M\) và \(N\), với \(N\) là giao điểm của \(A D\) và \(B C\). Từ tính chất của các tiếp tuyến và điểm giao của các đường chéo, ta có thể thấy rằng \(M N\) là tiếp tuyến của đường tròn tại điểm \(M\). Do đó, theo định lý tiếp tuyến, ta có:
\(M N \bot A B\)
Vì \(M N\) là tiếp tuyến tại điểm \(M\) và tiếp tuyến tại một điểm của đường tròn luôn vuông góc với bán kính tại điểm tiếp xúc, nên ta có kết luận rằng \(M N \bot A B\).
- Ta xét các điểm \(M\) và \(N\), với \(N\) là giao điểm của \(A D\) và \(B C\). Từ tính chất của các tiếp tuyến và điểm giao của các đường chéo, ta có thể thấy rằng \(M N\) là tiếp tuyến của đường tròn tại điểm \(M\). Do đó, theo định lý tiếp tuyến, ta có:
b. Chứng minh rằng \(M N = N H\):
- Tính đối xứng của tam giác và đoạn thẳng:
- Ta có hình học đối xứng trong bài toán, khi điểm \(N\) là giao điểm của các đường thẳng \(A D\) và \(B C\). Các đoạn thẳng \(M N\) và \(N H\) nằm trên cùng một trục đối xứng qua đường thẳng \(A B\), do đó chúng có độ dài bằng nhau.
- Cụ thể, \(M\) và \(H\) đối xứng qua đường \(A B\), nên \(M N = N H\) bởi tính chất đối xứng của các đoạn thẳng.
- Định lý về đoạn thẳng đối xứng:
- Các đoạn thẳng \(M N\) và \(N H\) đều có chung tính chất đối xứng qua \(A B\), và vì vậy ta có thể kết luận rằng chúng có độ dài bằng nhau:
\(M N = N H\)
- Các đoạn thẳng \(M N\) và \(N H\) đều có chung tính chất đối xứng qua \(A B\), và vì vậy ta có thể kết luận rằng chúng có độ dài bằng nhau: