Giới thiệu về bản thân
Câu 1.
a. Xác định được yêu cầu về hình thức, dung lượng của đoạn văn:
– Xác định đúng yêu cầu về hình thức và dung lượng (khoảng 200 chữ) của đoạn văn.
– HS có thể trình bày đoạn văn theo cách diễn dịch, quy nạp, tổng – phân – hợp, móc xích hoặc song hành.
b. Xác định đúng vấn đề cần nghị luận: Phân tích những nét đặc sắc về nội dung hoặc nghệ thuật của bài thơNhững bóng người trên sân ga.
c. Đề xuất được hệ thống ý phù hợp để làm rõ vấn đề nghị luận:
– Xác định được các ý phù hợp để làm rõ vấn đề nghị luận, sau đây là một số gợi ý:
c1.Phân tích phương diện nội dung:
– Phân tích những cuộc chia ly trên sân ga: Đó là cuộc chia ly giữa hai chị em, đôi trai gái, hai vợ chồng, hai mẹ con, thậm chí là có những người không có người đưa tiễn. Cùng chung cảnh ngộ chia ly trên sân ga, những cuộc chia ly đều mang nặng những nỗi buồn da diết.
– Phân tích, nhận xét về nhan đề, đề tài, chủ đề, cảm hứng chủ đạo của bài thơ:
+ Nhan đề: Sân ga là không gian đặc trưng của sự tiễn đưa, chia tay, ly biệt. Nhan đề này đã mở ra một trường liên tưởng về nỗi buồn nhân thế ở nơi người ta đến rồi đi, hợp rồi tan.
+ Đề tài, chủ đề: Bài thơ này viết về những cuộc chia ly trong đời sống, lấy bối cảnh ở sân ga để khắc hoạ nhiều cảnh tiễn biệt mang đậm nỗi buồn da diết. Phải thật là người có cái nhìn nhân đạo và tinh tế mới có thể tái hiện lại những khung cảnh mang màu sắc trầm buồn và thể hiện nỗi buồn biệt ly của con người sâu sắc đến thế.
+ Cảm hứng chủ đạo: Nỗi buồn da diết, sâu sắc của những cuộc đưa tiễn, li biệt trên sân ga.
– Đánh giá về tài năng nghệ thuật của Nguyễn Bính: Cái nhìn tinh tế và tâm hồn rung cảm sâu sắc.
c2. Phân tích phương diện nghệ thuật:
– Phân tích, nhận xét về đặc điểm thể thơ được thể hiện trong bài thơ này: Cách gieo vần, giọng thơ, nhịp thơ, các hình ảnh thơ,…
– Phân tích và nhận xét về yếu tố tự sự được thể hiện trong bài thơ.
– Đánh giá về tài năng nghệ thuật của Nguyễn Bính: Cái nhìn tinh tế và tâm hồn rung cảm sâu sắc.
Câu 2.
a. Bảo đảm yêu cầu về bố cục, dung lượng của bài văn nghị luận:
Bảo đảm yêu cầu về bố cục và dung lượng của bài văn nghị luận (khoảng 600 ± 100 chữ).
b. Xác định đúng vấn đề cần nghị luận:
Sự chủ động trong việc lựa chọn lối đi riêng, sáng tạo trong cuộc sống.
c. Viết được bài văn đảm bảo các yêu cầu:
HS biết triển khai và làm sáng tỏ vấn đề nghị luận. Sau đây là một số gợi ý:
c1.Mở bài: Giới thiệu được vấn đề nghị luận và nêu khái quát quan điểm của cá nhân về vấn đề.
c2. Thân bài:
* Thể hiện quan điểm của người viết, có thể theo một số gợi ý sau:
– Con người cần chủ động lựa chọn lối đi riêng, mới mẻ vì mỗi người có một cái nhìn riêng về cuộc sống. Việc chủ động chọn lựa con đường không có dấu chân người sẽ giúp cho chúng ta tránh được lối mòn cũ kĩ, lạc hậu, lỗi thời.
– Cách chọn lựa lối đi riêng: Phù hợp với lĩnh vực hoặc năng lực của bản thân.
– Ý nghĩa của việc lựa chọn lối đi riêng: Giúp cho con người trở nên chủ động, linh hoạt, phát huy tối đa năng lực, sở trường, hạn chế sở đoản; tôi rèn bản lĩnh và ý chí; nâng cao khát vọng,… tức là nâng cao giá trị bản thân và giá trị sự sống; góp phần làm cho cuộc sống thêm phong phú và phát triển.
* Mở rộng, trao đổi với quan điểm trái chiều hoặc ý kiến khác để có cái nhìn toàn diện hơn về vấn đề. Chẳng hạn như việc chọn lối đi đã có nhiều người đi sẽ giúp chúng ta an toàn hơn, thuận lợi hơn khi dựa vào kinh nghiệm của những người đi trước mà tiến bước trên hành trình.
* Khẳng định lại tầm quan trọng của việc lựa chọn lối đi riêng đối với HS hiện nay.
c3.Kết bài: Khẳng định lại ý nghĩa của việc lựa chọn lối đi riêng trong thời kì hội nhập hiện nay.
Câu 1. (0,5 điểm)
Thể thơ: Thơ bảy chữ.
Câu 2. (0,5 điểm)
– Vần được gieo: Vần “ay” trong “bay” – “tay” – “này”.
– Kiểu vần được gieo: Các vần này đều thuộc kiểu vần chân, bên cạnh đó “bay” – “tay” còn thuộc kiểu vần liền, “tay” – “này” thuộc kiểu vần cách.
Câu 3. (1,0điểm)
– Biện pháp tu từ liệt kê được tác giả sử dụng xuyên suốt trong văn bản khi chỉ ra những cuộc chia ly trong nhiều hoàn cảnh khác nhau.
– Tác dụng: Khắc hoạ chân thực những cuộc chia ly trong những hoàn cảnh khác nhau, từ đó tô đậm nỗi buồn sâu sắc của những cuộc chia ly trên sân ga.
Câu 4. (1,0điểm)
– Đề tài: Những cuộc chia ly.
– Chủ đề: Nỗi buồn của những cuộc chia ly trên sân ga.
Câu 5. (1,0điểm)
– Biểu hiện của yếu tố tự sự trong bài thơ:
+ Nhân vật trữ tình xưng “tôi” đóng vai trò như một nhân chứng trực tiếp quan sát và kể lại những điều tận mắt thấy ở sân ga.
+ Nhân vật trữ tình kể lại những cuộc chia ly trên sân ga. Mỗi cuộc chia ly giống như một lát cắt của một cuốn phim.
+ Trong những cuộc chia ly, có những cảnh có nhân vật, hành động cụ thể, có cảnh có cả lời thoại trực tiếp: “– Mình về nuôi lấy mẹ, mình ơi!”.
– Tác dụng:
+ Tạo tính chân thực, sống động cho văn bản, giúp cho bài thơ không chỉ bộc lộ cảm xúc mà còn trở thành một tấm gương, một thước phim tua chậm, tái hiện lại khung cảnh buồn của những cuộc chia ly ở sân ga.
+ Làm tăng sức gợi hình, gợi cảm cho bài thơ: Yếu tố tự sự giúp người đọc như được tận mắt chứng kiến, trực tiếp lắng nghe những cuộc chia ly ấy, qua đó giúp cho người đọc dễ dàng đồng cảm hơn.
Câu 2. Trong văn bản "Áo Tết", nhân vật bé Em nhận ra rằng tình bạn chân thành quan trọng hơn chiếc áo đầm mới. Từ câu chuyện ấy, hãy viết bài văn nghị luận (khoảng 600 chữ) bàn về việc cân bằng giá trị vật chất và giá trị tinh thần trong cuộc sống. Đồng thời, hãy đề xuất những việc làm cụ thể để xây dựng lối sống hài hoà, cân bằng giữa giá trị vật chất và tinh thần. Cân bằng vật chất và tinh thần: Chìa khóa của một cuộc sống hài hòa Trong hành trình mưu sinh và trưởng thành của mỗi con người, chúng ta luôn bị chi phối bởi hai trục giá trị song song: vật chất và tinh thần. Câu chuyện "Áo Tết" của Nguyễn Ngọc Tư, qua sự chuyển biến tâm lý của bé Em, đã khéo léo đặt ra một thông điệp sâu sắc: tình bạn chân thành (giá trị tinh thần) quan trọng hơn chiếc áo đầm mới (giá trị vật chất). Điều này gợi mở một vấn đề cốt lõi trong cuộc sống hiện đại: làm thế nào để cân bằng giữa việc theo đuổi của cải vật chất và việc nuôi dưỡng đời sống tâm hồn? Xây dựng lối sống hài hòa, cân bằng giữa hai yếu tố này là chìa khóa để đạt được hạnh phúc đích thực và sự bình an nội tại. Giá trị vật chất là nền tảng thiết yếu để duy trì sự sống và đảm bảo chất lượng cuộc sống. Không thể phủ nhận rằng tiền bạc, tiện nghi, và của cải vật chất giúp chúng ta thỏa mãn nhu cầu cơ bản như ăn, mặc, ở, và y tế. Chúng tạo điều kiện cho sự phát triển về thể chất và trí tuệ. Thiếu thốn vật chất có thể dẫn đến lo âu, bất an, ảnh hưởng tiêu cực đến hạnh phúc cá nhân và gia đình. Tuy nhiên, vật chất chỉ là phương tiện, không phải là mục đích cuối cùng của cuộc đời. Ngược lại, giá trị tinh thần bao gồm tình yêu thương, tình bạn, đạo đức, sự thấu cảm, kiến thức, và những trải nghiệm ý nghĩa. Đây là những yếu tố nuôi dưỡng tâm hồn, mang lại niềm vui, sự thỏa mãn sâu sắc và ý nghĩa cho sự tồn tại của con người. Một cuộc sống dư dả vật chất nhưng nghèo nàn tình cảm, thiếu đi sự kết nối và mục đích sống thì cũng chỉ là một tồn tại khô khan, vô vị. Nhân vật bé Em đã nhận ra điều này khi quyết định cất chiếc áo đầm hồng, giữ lại sự trọn vẹn của tình bạn với bé Bích – một giá trị tinh thần không thể mua bán được. Việc mất cân bằng, dù nghiêng về phía nào, đều dẫn đến những hệ lụy. Cuộc sống chạy đua theo vật chất dễ khiến con người trở nên thực dụng, lạnh lùng, bỏ quên các mối quan hệ và những giá trị nhân văn. Ngược lại, quá đề cao tinh thần mà coi nhẹ vật chất lại đẩy con người vào cảnh bần hàn, thiếu thốn, khó có thể phát triển toàn diện. Do đó, cân bằng là điều tất yếu. Để xây dựng lối sống hài hòa này, chúng ta cần thực hiện những việc làm cụ thể. Thứ nhất, xác định rõ vật chất là công cụ phục vụ cuộc sống, không phải là thước đo giá trị con người. Cần nỗ lực kiếm tiền một cách chính đáng nhưng không biến mình thành nô lệ của nó. Thứ hai, chủ động dành thời gian nuôi dưỡng đời sống tinh thần: quan tâm đến gia đình, bạn bè; tham gia các hoạt động cộng đồng; đọc sách, du lịch để mở mang kiến thức và trải nghiệm. Thứ ba, thực hành lối sống giản dị, biết ơn và chia sẻ. Sự sẻ chia, như cách bé Em đã làm, chính là cầu nối tuyệt vời để cân bằng vật chất và tinh thần, mang lại hạnh phúc cho cả người cho và người nhận. Tóm lại, một cuộc sống đáng sống không phải là cuộc sống chỉ chất đầy vật chất hay chỉ mơ màng trong thế giới tinh thần. Hạnh phúc thực sự nảy nở khi chúng ta biết dung hòa cả hai, biết dùng vật chất làm nền tảng vững chắc để xây dựng và lan tỏa những giá trị tinh thần cao đẹp.
- Sự thay đổi điểm nhìn: Đoạn trích sử dụng điểm nhìn của người kể chuyện ngôi thứ ba (giấu mặt) nhưng có sự luân phiên tập trung vào suy nghĩ, cảm xúc của hai nhân vật chính là bé Em và bé Bích. Cụ thể:
- Phần đầu tập trung vào suy nghĩ, cảm xúc của bé Em về chiếc áo đầm hồng, sự hào hứng khoe khoang.
- Phần sau chuyển sang suy nghĩ của bé Bích về hoàn cảnh nghèo khó, và đặc biệt là suy nghĩ của bé Em khi quyết định không mặc áo đầm hồng.
- Tác dụng: Việc thay đổi điểm nhìn luân phiên giúp câu chuyện trở nên khách quan hơn, đồng thời đi sâu vào thế giới nội tâm tinh tế của từng nhân vật. Nó giúp người đọc hiểu rõ hoàn cảnh, tính cách và sự phát triển tâm lý của cả hai bé, đặc biệt là sự chuyển biến tích cực trong nhận thức của bé Em về tình bạn.
- Với bé Em: Ban đầu, chiếc áo đầm hồng thể hiện sự hồn nhiên, có phần tự hào, muốn khoe khoang của một đứa trẻ có điều kiện. Nhưng đến cuối truyện, khi quyết định không mặc nó để đi chơi với bạn, chiếc áo lại bộc lộ sự tinh tế, lòng trắc ẩn, sự thấu hiểu và biết hy sinh niềm vui riêng vì tình bạn của bé Em.
- Với bé Bích: Chiếc áo đầm hồng làm nổi bật hoàn cảnh nghèo khó của bé Bích. Nó gợi lên sự tủi thân, khao khát có một cái Tết đủ đầy, nhưng cũng gián tiếp làm nổi bật tính cách hiền lành, biết nhường nhịn em và sự vô tư, không so đo về vật chất trong tình bạn.