Giới thiệu về bản thân

khê lắm
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
(Thường được cập nhật sau 1 giờ!)

Câu 1.

a. Xác định được yêu cầu về hình thức, dung lượng của đoạn văn (0,25 điểm):

− Xác định đúng yêu cầu về hình thức và dung lượng (khoảng 150 chữ) của đoạn văn.

− Học sinh có thể trình bày đoạn văn theo cách diễn dịch, quy nạp, tổng − phân − hợp, móc xích hoặc song hành.

b. Xác định đúng vấn đề cần nghị luận (0,25 điểm): Ghi lại cảm xúc, suy nghĩ về món phở.

c. Đề xuất được hệ thống ý phù hợp để làm rõ vấn đề nghị luận (1,5 điểm):

Gợi ý:

− Phở cũng như những món ăn truyền thống của người Việt Nam, tuy nhìn đơn giản, mộc mạc nhưng chất chứa sau nó là sự cầu kì, tỉ mỉ trong từng khâu chuẩn bị, chế biến. Để có nước dùng trong, thanh ngọt, người nấu phải hầm xương với một số hương liệu như thảo quả, hành tây, đại hồi,... trong một thời gian dài. Để có một bát phở đẹp mắt, người làm phải thái riêng phần lá hành, còn phần ngọn thì tước thành những miếng hành trắng dài, nhỏ, thơm ngon. Để khách hàng có thêm nhiều sự lựa chọn, người bán phải chế biến nhiều phần thịt bò. Và còn vô vàn những công việc khác nữa mới có thể cho ra một bát phở nóng hổi, thơm ngon, đẹp mắt.

− Cả một quá trình chuẩn bị, chế biến như vậy cũng đủ cho em thấy được sự tận tâm, tỉ mỉ của người bán phở. Chính vì thế, mỗi khi thưởng thức món ăn này, em càng thêm trân quý công sức, sự tận tâm của người bán phở, thêm yêu món ăn đượm hồn dân tộc này.

Câu 2.

a. Xác định được kiểu bài (0,25 điểm):

Xác định đúng kiểu bài: Bài văn biểu cảm.

b. Xác định được yêu cầu của đề bài (0,25 điểm):

Xác định đúng yêu cầu của đề: Biểu cảm về một sự việc mà em nhớ mãi.

c. Đề xuất được hệ thống ý phù hợp để triển khai bài viết (3,5 điểm):

– Xác định được các ý chính của bài viết.

– Sắp xếp được các ý hợp lí theo bố cục 3 phần của bài văn biểu cảm:

* Mở bài:

– Giới thiệu về sự việc mà em có ấn tượng đặc biệt, ghi nhớ sâu sắc.

– Bày tỏ tình cảm, ấn tượng của em về sự việc đó.

* Thân bài:

– Trình bày tình cảm, suy nghĩ về những đặc điểm nổi bật của sự việc ấy.

– Nêu ấn tượng của em về sự việc đặc biệt đó.

* Kết bài: Khẳng định lại tình cảm, suy nghĩ của em đối với sự việc ấy.

Câu 1. (0,5 điểm)

Phương thức biểu đạt chính: Thuyết minh.

Câu 2. (0,5 điểm)

Việc đặt tên quán phở bao gồm những quy luật sau:

− Dùng tên cúng cơm của người chủ hoặc tên con để đặt cho tên gánh, tên hiệu. Ví dụ: phở Phúc, phở Lộc, phở Thọ,...

− Lấy một đặc điểm tật nguyền trên cơ thể người bán phở để đặt cho tên gánh, tên hiệu. Ví dụ: phở Gù, phở Lắp, phở Sứt,...

Câu 3. (1,0 điểm)

− Tác giả đã nói về phở trên những phương diện sau:

+ Thời điểm thích hợp để ăn phở: Phở ăn bất cứ vào giờ nào cũng đều thấy trôi cả. Sớm, trưa, chiều, tối, khuya, lúc nào cũng ăn được.

+ Những quy luật trong việc đặt tên cho quán phở: Tên người bán phở thường chỉ dùng một tiếng,... người sành.

+ Sự mai một của tiếng rao bán phở trong đời sống hiện nay: Tại sao, bây giờ Hà Nội vẫn có phở, mà tiếng rao lại vắng hẳn đi?

− Cái nhìn của tác giả về phở: Cái nhìn trân trọng, yêu quý và cũng xen chút tiếc nuối vì trong đời sống hiện nay phở đã mất đi phần nào những yếu tố bình dị, đặc trưng của nó.

Câu 4. (1,0 điểm)

− Đề tài: Phở.

− Chủ đề: Ca ngợi món phở − một món ăn truyền thống đặc sắc, tinh tế và gắn bó sâu sắc với đời sống của người Việt, đặc biệt là người Hà Nội.

Câu 5. (1,0 điểm)

− Tình cảm của tác giả đối với phở:

+ Nguyễn Tuân thể hiện sự yêu mến, trân trọng những gì bình dị mà thân thuộc của món phở Hà Nội.

+ Tác giả cũng thể hiện sự tự hào, sự hoài niệm về món ăn thấm đượm tinh thần dân tộc này.

a. Cách tìm chiếc kim khâu bị rơi trên thảm: dùng một nam châm di chuyển qua lại trên thảm. Vì kim khâu làm bằng thép nên khi nam châm di chuyển qua, nó sẽ bị nam châm hút lại.

b.

loading... 


Việc sử dụng các biện pháp chống nóng, chống rét cho cây có tác dụng điều khiển nhiệt độ thích hợp cho quá trình quang hợp. Ở một số loài cây, nhiệt độ quá cao hoặc quá thấp sẽ làm cây ngừng quang hợp hoặc khô héo, giá rét và bị chết.

Ví dụ: chống nóng, chống rét cho cây mạ, cây cà chua, cây lạc,...

a. Quá trình thoát hơi nước qua khí khổng được điều tiết bởi cơ chế đóng mở khí khổng:

- Khi no nước, thành mỏng của tế bào khí khổng căng ra làm cho thành dày cong theo thành mỏng và khí khổng mở ra.

- Khi mất nước, thành mỏng hết căng và thành dày duỗi thẳng, khí khổng đóng lại.

Độ mở của khí khổng phụ thuộc chủ yếu vào hàm lượng nước trong các tế bào khí khổng.

b. Khi đứng dưới bóng cây lại cảm thấy mát hơn khi đứng dưới mái che bằng vật liệu xây dựng:

- Cây xanh có khả năng thoát hơi nước. Đứng dưới bóng cây có hơi nước thoát ra từ lá cây, có cây che bóng mát nên cảm thấy mát mẻ, dễ chịu hơn ngồi dưới mái che bằng vật liệu xây dựng.

- Vật liệu xây dựng thông thường bao gồm các loại mái sắt, thép, tôn nhựa lại thường có cơ chế bức xạ nhiệt trực tiếp với ánh sáng mặt trời nên hấp thụ nhiệt lớn.

Không nên để rau, củ, quả trong ngăn đá của tủ lạnh vì trong rau, củ, quả đều chứa khá nhiều nước. Nếu để vào ngăn đá → nước sẽ đóng băng → tế bào to ra sẽ phá vỡ các bào quan, làm hỏng tế bào → rau, củ, quả chóng bị hỏng.

Muốn bảo quản rau, củ, quả tươi lâu, chúng ta nên để chúng vào tủ lạnh ở nhiệt độ 1 - 4 oC vì vi khuẩn thường phát triển mạnh khi rau, củ, quả được bảo quản ở nhiệt độ trên 4 oC. Ngược lại, nếu nhiệt độ quá thấp có thể khiến rau, củ, quả đóng băng, nhanh bị hỏng.

a. Quang hợp là quá trình thu nhận và chuyển hóa năng lượng ánh sáng, tổng hợp nên các chất hữu cơ từ các chất vô cơ như nước, khí carbon dioxide, diễn ra ở tế bào có chất diệp lục, đồng thời thải ra khí oxygen.

Nguyên liệu chính của quang hợp: nước, khí carbon dioxide.

Sản phẩm chính của quang hợp: chất hữu cơ, khí oxygen.

b.

(1) Ánh sáng mặt trời

(2) Carbon dioxide

(3) Nước và chất khoáng

(4) Oxygen

(5) Glucose

Các yếu tố bên ngoài cần cho sự nảy mầm của hạt chủ yếu là nước và nhiệt độ.

Muốn làm cho hạt nảy mầm trước hết phải ngâm hạt vào nước, tạo điều kiện cho hạt hô hấp tế bào, giải phóng năng lượng cho các hoạt động của hạt. Đồng thời, hạt nảy mầm cần có nhiệt độ thích hợp, không được lạnh giá.

Sau khi hút đủ nước và có nhiệt độ thích hợp, các tế bào chồi mầm và rễ mầm bắt đầu hoạt động và phát triển.