Giới thiệu về bản thân
Câu 9.
Biện pháp tu từ nhân hóa trong câu văn đã làm cho hình ảnh Bọ Ngựa trở nên sinh động, gần gũi như con người. Những chi tiết như “đứng ngẩn mặt”, “hai hàng nước mắt rưng rưng” giúp thể hiện rõ tâm trạng hối hận, xấu hổ của Bọ Ngựa. Qua đó, người đọc cảm nhận được sự chuyển biến trong nhận thức và tình cảm của nhân vật. Nhân hóa còn góp phần làm nổi bật bài học về việc biết nhận lỗi và sửa sai. Đồng thời, câu văn trở nên giàu cảm xúc, tăng sức gợi hình và gợi cảm.
Câu 10.
Từ câu chuyện “Võ sĩ Bọ Ngựa” của Tô Hoài, em rút ra rằng cần rèn luyện đức tính khiêm tốn trong cuộc sống. Trước hết, em luôn lắng nghe ý kiến của người khác và không tự kiêu khi đạt được thành tích. Em cũng cố gắng học hỏi từ bạn bè, thầy cô để hoàn thiện bản thân. Khi mắc lỗi, em biết nhận sai và sửa chữa kịp thời. Ngoài ra, em không khoe khoang mà luôn cư xử hòa nhã, tôn trọng mọi người xung quanh.
Câu 9 (1 điểm):
Câu văn đã sử dụng biện pháp tu từ nhân hóa.
- Dấu hiệu: “Sáo biết hối hận và nhớ quê hương” → gán cho con chim những cảm xúc, suy nghĩ của con người.
- Tác dụng: Làm cho hình ảnh Sáo Sậu trở nên sinh động, gần gũi; thể hiện rõ tâm trạng hối lỗi và nỗi nhớ quê hương, qua đó giúp người đọc hiểu và cảm thông hơn với nhân vật.
Câu 10 (1 điểm):
Qua truyện “Chào Mào và Sáo Sậu”, em rút ra được bài học rất ý nghĩa về cách sống. Mỗi người cần biết quan tâm, giúp đỡ những người xung quanh, đặc biệt là hàng xóm láng giềng. Không nên ích kỉ, chỉ nghĩ đến bản thân như Sáo Sậu, bởi điều đó sẽ khiến ta bị mọi người xa lánh. Đồng thời, chúng ta cũng cần sống chân thành, không nên nói dối để trốn tránh trách nhiệm. Khi mắc lỗi, cần biết nhận ra và sửa chữa sai lầm. Truyện giúp em hiểu rằng tình làng nghĩa xóm rất đáng trân trọng. Em sẽ cố gắng sống tốt hơn và biết quan tâm đến mọi người xung quanh.
Tết năm nay đã để lại trong em một kỷ niệm thật đáng nhớ. Đó là lần đầu tiên em được cùng gia đình về quê nội đón Tết sau nhiều năm chỉ ở thành phố.
Từ những ngày cuối năm, không khí Tết đã rộn ràng khắp nơi. Cả nhà em cùng nhau dọn dẹp, trang trí nhà cửa và chuẩn bị quà mang về quê. Em háo hức vô cùng vì đã lâu rồi em chưa được gặp lại ông bà và các anh chị họ. Sáng 28 Tết, cả gia đình lên xe về quê. Trên đường đi, em thấy hai bên đường ngập tràn sắc hoa, nào là hoa đào, hoa mai, rồi những chậu quất trĩu quả, tất cả tạo nên một khung cảnh thật rực rỡ.
Về đến quê, em được ông bà đón chào bằng những nụ cười ấm áp. Những ngày giáp Tết, em cùng mọi người gói bánh chưng. Đây là lần đầu tiên em được tự tay gói bánh nên rất lóng ngóng, nhưng nhờ bà hướng dẫn tận tình, em cũng hoàn thành được một chiếc bánh “tàm tạm”. Buổi tối, cả nhà quây quần bên nồi bánh chưng đỏ lửa, vừa canh bánh vừa kể cho nhau nghe những câu chuyện trong năm qua. Khoảnh khắc ấy khiến em cảm nhận rõ ràng sự ấm áp của tình thân.
Đêm giao thừa là lúc em nhớ nhất. Cả gia đình cùng nhau làm mâm cúng, sau đó ra sân xem pháo hoa. Khi những chùm pháo hoa rực sáng trên bầu trời, em cảm thấy thật vui và hạnh phúc. Em còn được nhận lì xì từ ông bà, bố mẹ và chúc Tết mọi người những lời chúc tốt đẹp nhất.
Những ngày đầu năm mới, em cùng các anh chị đi chúc Tết họ hàng, được thưởng thức nhiều món ăn ngon và tham gia các trò chơi dân gian. Tiếng cười nói rộn ràng khắp nơi khiến không khí Tết thêm phần vui tươi.
Kỳ nghỉ Tết trôi qua thật nhanh nhưng đã để lại trong em nhiều kỷ niệm đẹp. Chuyến về quê không chỉ giúp em hiểu thêm về phong tục truyền thống mà còn khiến em thêm yêu gia đình và trân trọng những khoảnh khắc sum vầy bên người thân. Em mong rằng năm nào cũng sẽ được đón một cái Tết ý nghĩa như vậy.
ko
390
4
Một câu chuyện cổ tích nước ngoài mà em rất yêu thích chính là truyện Non-bu và Heng-bu.
Truyện kể về hai anh em ruột nhưng lại có tính cách trái ngược nhau. Người anh lười biếng lại tham lam, còn người em thì tốt bụng, chăm chỉ. Một ngày nọ, Heng-bu gặp một chú chim nhạn nhỏ bé bị gãy chân, rơi xuống trước thềm nhà. Thấy thương con vật tội nghiệp, Heng-bu đưa chú vào nhà và chăm sóc chu đáo đến khi chú khỏi bệnh mới thả đi. Mùa xuân năm sau, chim nhạn trở về mang theo cho Heng-bu một hạt bầu thần kì. Những quả bầu mọc ra từ cây này cho anh nhiều vàng bạc châu báu. Từ đó vợ chồng anh sống cuộc sống giàu có. Người anh biết tin, vội đến hỏi thăm câu chuyện. Nghe xong, hắn liền tìm một chú chim nhạn rồi bẻ chân của nó. Xong xuôi hắn giả vờ chăm sóc chú chim tội nghiệp và đòi nó phải báo ơn. Lần này, chim nhạn cũng mang cho Non-bu một hạt bầu. Nhưng nhưng trái bầu khi bổ ra chỉ đem đến cướp bóc, tai họa cho hắn mà thôi. Kết cục, hắn mất đi tất cả, trở thành một kẻ ăn mày.
Câu chuyện với cách kể rất thú vị và các chi tiết thần kì đã thu hút em ngay từ lần đọc đầu tiên. Bài học mà câu chuyện muốn gửi gắm cũng thật sâu sắc và ý nghĩa vô cùng.
a. Yêu cầu chung: xác định đúng vấn đề trọng tâm; bảo đảm yêu cầu về hình thức, dung lượng. (1.0 điểm)
– Vấn đề: kể lại một câu chuyện cổ tích.
– Hình thức: bài văn.
– Dung lượng: khoảng 300 – 400 chữ.
b. Yêu cầu cụ thể:
b1. Viết được mở bài, kết bài: (1.0 điểm)
– Mở bài: giới thiệu hoặc nêu lí do kể lại câu chuyện.
– Kết bài: nêu cảm nghĩ về truyện hoặc nhân vật chính trong truyện.
b2. Kể lại câu chuyện cổ tích với các yêu cầu sau: (4.0 điểm)
– Kể bằng lời văn của người viết.
– Kể theo trình tự hợp lí.
– Không thay đổi nội dung chính và các sự kiện quan trọng.
– Lồng ghép các yếu tố miêu tả, biểu cảm phù hợp.
b3. Sáng tạo: (1.0 điểm)
– Có cách diễn đạt tinh tế, độc đáo.
– Thêm các yếu tố sáng tạo: thêm một vài chi tiết, tạo ra một kết thúc khác,...