Giới thiệu về bản thân

Chào mừng bạn đến với trang cá nhân của Lê Trí Bảo
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
(Thường được cập nhật sau 1 giờ!)
Trong lịch sử phong kiến ​​Việt Nam,Chuyện Hưng Đạo Đại Vương Trần Quốc Tuấn ba lần đánh tan quân Nguyên Mông là minh chứng hùng hồn cho trí tuệ và lòng dũng cảm. Đỉnh cao là trận Bạch Đằng năm 1288, ông đã sử dụng chiến thuật đệm gỗ xuống dòng sông, lợi dụng thủy triều để tiêu diệt bờ biển chiến thuyền quân sự, bảo vệ an toàn hoàng đế.  Trần Hưng Đạo không chỉ là một nhà quân sự tài ba mà còn là người thiết lập lợi ích quốc gia lên trên hết. Sự việc tiêu biểu nhất có thể thể hiện nhân cách cao thượng của ông là việc xóa bỏ hiềm khích gia đình vì đại cuộc. Trước khi qua đời, Trần Liễu (cha của Trần Quốc Tuấn) từng leo con phải giành lại ngôi vua. Tuy nhiên, Trần Quốc Tuấn hiểu rằng nếu anh em trong nhà tranh đấu, đất nước sẽ yếu đi và dễ bị giặc ngoại xâm thôn tính. Khi quân Nguyên Mông lần thứ hai sang xâm lược, ông đã chủ động tìm gặp vua Trần Nhân Tông, dâng lại phần lược - vật đính ước của cha - để khẳng định lòng trung thành, xóa bỏ hiềm riêng tư. Sự kết hợp của cha con, vua tôi nhà Trần dưới sự huy hoàng duy nhất của ông đã tạo nên sức mạnh tổng hợp, đánh bại đội quân hùng mạnh nhất thế giới lúc bấy giờ. Hành động cao thượng của Trần Hưng Đạo không chỉ giúp giữ vững độc lập cho Đại Việt mà còn trở thành thành bài học muôn đời về sự kết nối, đặt lợi ích dân tộc lên trên lợi ích cá nhân, xứng đáng là anh hùng dân tộc đại đại. 
Quảng Ninh, quê hương em, tự hào là vùng đất thiêng liêng gắn liền với chiến công hiển hách của Hưng Đạo Đại Vương Trần Quốc Tuấn. Kể về ông, sự kiện in đậm trong tâm trí em nhất là câu chuyện ông dùng "trần tình" để khuyên vua Trần Nhân Tông đoàn kết, xây dựng sức mạnh toàn dân trước cuộc kháng chiến chống quân Nguyên - Mông lần thứ hai. Năm 1282, trước thế giặc Nguyên - Mông hung hãn đang hăm he xâm lược nước ta lần thứ hai, tình hình đất nước vô cùng hiểm nghèo. Hưng Đạo Vương khi ấy đang giữ chức Tiết chế quân đội, trọng trách nặng nề. Mặc dù từng có mâu thuẫn giữa hai dòng họ (cha ông là Trần Liễu từng có hiềm khích với Trần Cảnh - vua Trần Thái Tông), nhưng đặt lợi ích quốc gia lên trên hết, ông đã chủ động xóa bỏ tư thù. Chuyện kể rằng, khi vua Trần Nhân Tông đến thăm Trần Quốc Tuấn tại Vạn Kiếp, ông đã dâng cho vua một món ăn là thịt heo sống và nhắc đến chuyện gia đình. Ông thẳng thắn tỏ bày: "Cha thần từng dặn phải cướp lấy thiên hạ. Tuy nhiên, thần biết đó là lời nói của một thời, không phải lời nói của người nhân nghĩa. Thần quyết không làm thế". Hành động dũng cảm và lời khẳng định đanh thép đó đã xóa tan mọi nghi ngờ, thể hiện tấm lòng trung quân ái quốc sáng ngời. Vua Trần Nhân Tông vô cùng cảm động, tin tưởng trao toàn quyền quyết định việc quân cho ông. Nhờ sự đoàn kết ấy, Trần Hưng Đạo đã lãnh đạo quân dân nhà Trần đoàn kết một lòng, thực hiện chiến lược "vườn không nhà trống", khiến giặc Nguyên - Mông kiệt quệ và cuối cùng thất bại thảm hại. Câu chuyện này không chỉ cho thấy tài năng quân sự mà còn làm sáng ngời nhân cách cao thượng của bậc danh tướng. Hình ảnh Hưng Đạo Đại Vương Trần Quốc Tuấn với tấm lòng "vì nước quên nhà" luôn là tấm gương sáng cho thế hệ trẻ Quảng Ninh nói riêng và Việt Nam nói chung noi theo về lòng yêu nước và tinh thần đoàn kết.
Quảng Ninh, quê hương em, tự hào là vùng đất thiêng liêng gắn liền với chiến công hiển hách của Hưng Đạo Đại Vương Trần Quốc Tuấn. Kể về ông, sự kiện in đậm trong tâm trí em nhất là câu chuyện ông dùng "trần tình" để khuyên vua Trần Nhân Tông đoàn kết, xây dựng sức mạnh toàn dân trước cuộc kháng chiến chống quân Nguyên - Mông lần thứ hai. Năm 1282, trước thế giặc Nguyên - Mông hung hãn đang hăm he xâm lược nước ta lần thứ hai, tình hình đất nước vô cùng hiểm nghèo. Hưng Đạo Vương khi ấy đang giữ chức Tiết chế quân đội, trọng trách nặng nề. Mặc dù từng có mâu thuẫn giữa hai dòng họ (cha ông là Trần Liễu từng có hiềm khích với Trần Cảnh - vua Trần Thái Tông), nhưng đặt lợi ích quốc gia lên trên hết, ông đã chủ động xóa bỏ tư thù. Chuyện kể rằng, khi vua Trần Nhân Tông đến thăm Trần Quốc Tuấn tại Vạn Kiếp, ông đã dâng cho vua một món ăn là thịt heo sống và nhắc đến chuyện gia đình. Ông thẳng thắn tỏ bày: "Cha thần từng dặn phải cướp lấy thiên hạ. Tuy nhiên, thần biết đó là lời nói của một thời, không phải lời nói của người nhân nghĩa. Thần quyết không làm thế". Hành động dũng cảm và lời khẳng định đanh thép đó đã xóa tan mọi nghi ngờ, thể hiện tấm lòng trung quân ái quốc sáng ngời. Vua Trần Nhân Tông vô cùng cảm động, tin tưởng trao toàn quyền quyết định việc quân cho ông. Nhờ sự đoàn kết ấy, Trần Hưng Đạo đã lãnh đạo quân dân nhà Trần đoàn kết một lòng, thực hiện chiến lược "vườn không nhà trống", khiến giặc Nguyên - Mông kiệt quệ và cuối cùng thất bại thảm hại. Câu chuyện này không chỉ cho thấy tài năng quân sự mà còn làm sáng ngời nhân cách cao thượng của bậc danh tướng. Hình ảnh Hưng Đạo Đại Vương Trần Quốc Tuấn với tấm lòng "vì nước quên nhà" luôn là tấm gương sáng cho thế hệ trẻ Quảng Ninh nói riêng và Việt Nam nói chung noi theo về lòng yêu nước và tinh thần đoàn kết.
Lịch sử Việt Nam đã trải qua qua hàng rào nước và giữ nước, ghi dấu biết bao vị anh hùng, minh quân thất bại. Một trong những nhân vật lịch sử em vô cùng kính trọng là vua Lý Thái Tổ – Lý Công Uẩn, người đã quyết định sáng suốt tầng nhất: chuyển đô từ Hoa Lư về Thăng Long. Lý Công Uẩn (974 - 1028) sinh ra tại Bắc Ninh, nổi tiếng là người thông minh, nguy học và nhân hậu từ nhỏ. Sau khi vua Lê Long Đĩnh qua đời, năm 1009, Lý Công Uẩn triều đình suy tôn lên hoàng đế, lập ra nhà Lý, lấy hiệu là Lý Thái Tổ.  Khi mới lên sàn, tình hình đất nước còn nhiều khó khăn. Kinh đô Hoa Lư (Ninh Bình) vốn là vùng núi non nguy hiểm, phù hợp cho việc phòng thủ thời chiến, nhưng lại quá chật, không thuận lợi cho việc phát triển kinh tế và giao thương lâu dài. Nhận thức rõ điều này, vua Lý Thái Tổ đã nung nấu ý định chuyển đô đến một vùng đất rộng rãi, bằng cách hơn. Năm 1010, vua cùng các quần thần đi thuyền đến thành Đại La. Tại đây, ông nhìn thấy vùng đất bằng hoàng, cao kề, phía trước có sông Hồng rộng lớn, đất đai màu mỡ, dân cư đông đúc. Vua Lý Thái Tổ rất đồng ý và cho rằng đây là “nơi trung tâm trời đất”, rất thuận lợi để xây dựng đế đô bền vững. Sau khi trở về, vua đã viết bài "Chiếu chuyển đô" nổi tiếng. Trong tài liệu tham khảo, vua phân tích biết việc nhà Đinh, nhà Lê đóng đô ở Hoa Lư tạo "triều đại không được lâu bền, số vận động ngắn ngọn", trong khi Đại La "ở giữa khu vực trời đất, được cái thế rồng vòng hổ ngồi... địa thế rộng mà bằng, đất đai cao mà thoáng". Việc chuyển đô không chỉ giúp đất nước thoát khỏi kìm kẹp của núi non mà còn giúp mở rộng giao thương, phát triển văn hóa và củng cố quyền lực tập trung.  Quyết định này ban đầu cũng gặp phải một số ý kiến ​​trái chiều từ các quan lại cũ, nhưng nhờ sự sáng suốt và quyết tâm cao độ của vua, triều đình đã chính thức chuyển đô thành Đại La vào tháng 7 năm Canh Tuất (1010). Ngay khi thuyền vua cập bến, rồng vàng hiện lên, vua đã đổi tên Đại La thành Thăng Long (rồng bay lên). Việc chuyển đô của vua Lý Thái Tổ là một sự kiện lịch sử mang tầm nhìn xa rộng. Nó không chỉ có thể hiện thực hóa trí tuệ của một quân đội mà còn là nền tảng vững chắc cho sự phát triển hưng thịnh của Đại Việt trong nhiều thế kỷ sau đó. Hình ảnh vua Lý Thái Tổ và thành Thăng Long mãi là niềm tự hào của dân tộc Việt Nam. Qua sự kiện chuyển đô, thêm khâm phục tài năng, tầm nhìn chiến lược của vua Lý Thái Tổ. Ông không chỉ là bậc thầy võ thuật mà còn là nhà chính trị lỗi lạc, biết đặt lợi ích của nhân dân và quốc gia lên hàng đầu.
Lịch sử Việt Nam đã trải qua qua hàng rào nước và giữ nước, ghi dấu biết bao vị anh hùng, minh quân thất bại. Một trong những nhân vật lịch sử em vô cùng kính trọng là vua Lý Thái Tổ – Lý Công Uẩn, người đã quyết định sáng suốt tầng nhất: chuyển đô từ Hoa Lư về Thăng Long. Lý Công Uẩn (974 - 1028) sinh ra tại Bắc Ninh, nổi tiếng là người thông minh, nguy học và nhân hậu từ nhỏ. Sau khi vua Lê Long Đĩnh qua đời, năm 1009, Lý Công Uẩn triều đình suy tôn lên hoàng đế, lập ra nhà Lý, lấy hiệu là Lý Thái Tổ.  Khi mới lên sàn, tình hình đất nước còn nhiều khó khăn. Kinh đô Hoa Lư (Ninh Bình) vốn là vùng núi non nguy hiểm, phù hợp cho việc phòng thủ thời chiến, nhưng lại quá chật, không thuận lợi cho việc phát triển kinh tế và giao thương lâu dài. Nhận thức rõ điều này, vua Lý Thái Tổ đã nung nấu ý định chuyển đô đến một vùng đất rộng rãi, bằng cách hơn. Năm 1010, vua cùng các quần thần đi thuyền đến thành Đại La. Tại đây, ông nhìn thấy vùng đất bằng hoàng, cao kề, phía trước có sông Hồng rộng lớn, đất đai màu mỡ, dân cư đông đúc. Vua Lý Thái Tổ rất đồng ý và cho rằng đây là “nơi trung tâm trời đất”, rất thuận lợi để xây dựng đế đô bền vững. Sau khi trở về, vua đã viết bài "Chiếu chuyển đô" nổi tiếng. Trong tài liệu tham khảo, vua phân tích biết việc nhà Đinh, nhà Lê đóng đô ở Hoa Lư tạo "triều đại không được lâu bền, số vận động ngắn ngọn", trong khi Đại La "ở giữa khu vực trời đất, được cái thế rồng vòng hổ ngồi... địa thế rộng mà bằng, đất đai cao mà thoáng". Việc chuyển đô không chỉ giúp đất nước thoát khỏi kìm kẹp của núi non mà còn giúp mở rộng giao thương, phát triển văn hóa và củng cố quyền lực tập trung.  Quyết định này ban đầu cũng gặp phải một số ý kiến ​​trái chiều từ các quan lại cũ, nhưng nhờ sự sáng suốt và quyết tâm cao độ của vua, triều đình đã chính thức chuyển đô thành Đại La vào tháng 7 năm Canh Tuất (1010). Ngay khi thuyền vua cập bến, rồng vàng hiện lên, vua đã đổi tên Đại La thành Thăng Long (rồng bay lên). Việc chuyển đô của vua Lý Thái Tổ là một sự kiện lịch sử mang tầm nhìn xa rộng. Nó không chỉ có thể hiện thực hóa trí tuệ của một quân đội mà còn là nền tảng vững chắc cho sự phát triển hưng thịnh của Đại Việt trong nhiều thế kỷ sau đó. Hình ảnh vua Lý Thái Tổ và thành Thăng Long mãi là niềm tự hào của dân tộc Việt Nam. Qua sự kiện chuyển đô, thêm khâm phục tài năng, tầm nhìn chiến lược của vua Lý Thái Tổ. Ông không chỉ là bậc thầy võ thuật mà còn là nhà chính trị lỗi lạc, biết đặt lợi ích của nhân dân và quốc gia lên hàng đầu.