Bài học cùng chủ đề
- Tri thức Ngữ văn
- Đọc: Pa-ra-na (Parana) - Trích Nhiệt đới buồn - Cờ-lốt Lê-vi-Xtơ-rốt (Claude Lévi-Strauss)
- Đọc: Giáo dục khai phóng ở Việt Nam nhìn từ Đông Kinh Nghĩa Thục (Nguyễn Nam)
- Đọc: Đời muối (Trích từ Đời muối: Lịch sử thế giới) - Mác Kơ-len-xki (Mark Kurlansky)
- Thực hành tiếng Việt: Tôn trọng và bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ
- Viết thư trao đổi về công việc hoặc một vấn đề đáng quan tâm
- Thực hành đọc: Sách thay đổi lịch sử loài người - Vũ Đức Liêm
- Phiếu bài tập cuối chủ đề 8
Báo cáo học liệu
Mua học liệu
Mua học liệu:
-
Số dư ví của bạn: 0 coin - 0 Xu
-
Nếu mua học liệu này bạn sẽ bị trừ: 2 coin\Xu
Để nhận Coin\Xu, bạn có thể:
Phiếu bài tập cuối chủ đề 8 SVIP
Yêu cầu đăng nhập!
Bạn chưa đăng nhập. Hãy đăng nhập để làm bài thi tại đây!
Đọc văn bản và thực hiện yêu cầu bên dưới.
NỖI BUỒN LÀNG CHIẾU
(Trích)
(Tiêu Dao − Bảo Anh)
Từng suy rồi thịnh, từng có cả trăm hộ làm nghề nhưng rồi bây giờ khung dệt bụi phủ, tay người chênh chao. Nỗi niềm của làng chiếu chẳng mấy người thấu tỏ khi chỉ duy nhất một bà lão còn dệt chiếu, nhưng cũng đầy chông chênh.
Gió buồn lay đồng cói
Làng Cẩm Nê (xã Hoà Tiến, Hoà Vang, Đà Nẵng) giờ đã khác khi đời sống người dân khấm khá hơn rất nhiều, bao quanh vẫn là đồng lúa đang chín vàng và chon von những ngôi nhà 2 − 3 tầng rợp bóng cây xanh. Làng từng nổi tiếng với nghề dệt chiếu, có những chiếc chiếu đặc biệt dệt để tiến vua. Người làng trong câu chuyện mỗi tối, vẫn cứ nhớ về cha ông mình với câu chuyện về một chiếc chiếu hoa được tiến kinh ngày trước. Chiếu rộng 2,5 mét và dài tới 25 mét, được những người dệt chiếu lão luyện làm trong gần một tháng. Nhờ chiếc chiếu ấy, người làng đã được ban thưởng trọng hậu và sau kỳ tích đó, tiếng tăm chiếu Cẩm Nê đã bay đi khắp nước.
[...] Nhưng làng chiếu bây giờ dường như chỉ còn cái tên, bởi chẳng còn những lách cách thoi đưa, những sợi cói rực rỡ trong nắng, những bãi đay bãi lác rì rào trong gió, tất cả chỉ là một thời quá vãng. Những cơn lốc của thị trường đã cuốn làng chiếu lao đao. Nào là những sản phẩm đệm, rồi chiếu nhựa, chiếu công nghiệp, thảm các loại với giá rẻ đã đánh sập cái nghề truyền thống mấy trăm năm của làng.
Quá trưa, bà Dương Thị Thông (65 tuổi) mới tất tả đạp xe về. Bà là con gái cụ Ngô Thị Thân − một nghệ nhân dệt chiếu hơn 70 năm làm nghề của làng. Bà Thông, con gái cụ, cũng là một nghệ nhân, nhưng lại là người cuối cùng còn dệt chiếu ở làng. Trước cửa, tấm biển giới thiệu sản phẩm làng nghề chiếu Cẩm Nê của bà đã bạc như cái nghề của cha ông đang lay lắt ở chính nơi này. Giờ bà Thông chỉ thi thoảng mới dệt chiếu, khi có khách đặt hàng, hay khi có đoàn du lịch tới thăm và chỉ những dịp cuối năm, khi việc nông đã vãn, việc làm thuê cũng vơi, còn lại ngày ngày bà đi phụ hồ, đi nấu đám tiệc, hay làm các công việc lặt vặt khác. Bởi, nghề gia truyền giờ không còn nuôi sống nổi thân mình, bỏ thì cũng tiếc lắm chứ! Cái nghề dệt chiếu như máu như thịt, là nghề gia truyền khi ông bà nội và cha mẹ bà cũng là những nghệ nhân dệt chiếu trong làng. Tuy trải qua nhiều giai đoạn thăng trầm, gia đình bà vẫn cố gắng giữ cho được nghề. Ngay từ năm 10 tuổi, bà Thông đã được cha mẹ truyền lại và cho đến nay, bà đã gắn bó với nghề hơn 55 năm.
Trong mạch ngầm trí nhớ, bà Thông vẫn mường tượng ra cảnh người làng từ già đến trẻ, người trồng lác, người chăm đay, người xe sợi, người nhuộm cói,... tiếng gọi tiếng cười, tiếng thoi tiếng cửu rộn ràng với cả tiếng mua bán giăng kín cả làng chiếu này. [...]
Công làm một chiếc chiếu không hề nhỏ, từ việc gặt lác, chặt đay về đem phơi, rồi phẩm nấu lên và nhúng sợi lác vào, nhúng từng nắm một và mang phơi nắng. Một nắm lác có thể nhuộm một hoặc hai − ba lần. Mỗi khung dệt có hai người tham gia. Trong đó, một người luồn cói và người kia dùng go dệt cói vào đay cho chắc chắn. Chiếu dệt xong mang phơi khắp sân, rồi cuối cùng ghim các đầu dây đay để cho hai đầu chiếu khỏi bung ra. [...] Mỗi đôi chiếu đặt làm đặc biệt thì giá 700.000 − 800.000 đồng, tương đương với chiếu trúc làm máy. Sau khi trừ tiền thuê nhân công và nguyên vật liệu thì gần như không còn một đồng lời. Do không có nguồn nguyên liệu tại chỗ, người làng chiếu phải đặt mua sợi cói từ địa phương khác, lấy công phơi, nhuộm cói, dệt chiếu làm lời. Mỗi chiếc chiếu thủ công thông thường được bán với giá khoảng 250.000 − 300.000 đồng. Sau khi trừ các khoản chi phí, số tiền bán được có khi cũng không đủ trang trải cuộc sống. Bởi vậy, cái nghề cứ dần lụi đi trông thấy.

Bà Thông cùng người bạn dệt chiếu
Người còn nhớ tiếng thoi đưa
Tôi đi khắp làng, ngang qua những xóm Đùng, xóm Đồng Khánh, xóm Bến Đò, xóm Bến Bắc, xóm Dinh, xóm Làng,... chẳng còn vang tiếng loạch xoạch của người làm chiếu nữa. Nhiều người già trong làng cũng đau đáu với cái nghề của cha ông. Nhưng, đành chịu. Cuộc sống của những người làm chiếu rơi vào khó khăn, người làng lần lượt bỏ nghề, những khung dệt dần đóng bụi. "Cách đây 5-7 năm, sau nhiều năm cất giữ với ước mong hồi sinh làng nghề, nhiều nhà đành phá khung dệt vì chật nhà. Người làng cái tay không còn quen đưa thoi, bàn chân không còn quen dập, con mắt không còn quen nhìn màu nhuộm nữa. Đau lòng lắm!", bà Ngô Thị Mua (66 tuổi, trú thôn Cẩm Nê), người phụ làm chiếu với bà Thông bộc bạch.
Còn bà Thông gắn bó với nghề hơn 50 năm, trải qua biết bao những thăng trầm cùng khung dệt, bà Thông vẫn không nỡ rời xa. Ngày trước cả làng có khoảng 200 hộ nhưng hộ nào cũng dệt chiếu mưu sinh. Khung cảnh làng quê nhộn nhịp lắm. Còn bây giờ, gần 700 hộ dân mà chỉ còn mình bà Thông bám trụ. Nguyện vọng duy nhất của bà là giữ nghề cho đến khi nằm xuống. Không làm thường xuyên nữa nhưng cần thì vẫn dệt chiếu để giữ lấy thương hiệu làng nghề. Dù vậy, tuổi đã cao, thỉnh thoảng bà Thông mới ngồi vào khung dệt. Chiếc khung dệt hầu hết nằm lặng lẽ ở góc sân, mà nhớ bàn tay đưa thoi. [...]
(Trích Nỗi buồn làng chiếu, https://antg.cand.vn/phong-su/noi-buon-lang-chieu)
Văn bản "Nỗi buồn làng chiếu" thuộc kiểu văn bản
Văn bản "Nỗi buồn làng chiếu" không sử dụng phương thức biểu đạt nào dưới đây?
Ý nào dưới đây là đúng về tác dụng của phần sapo trong văn bản "Nỗi buồn làng chiếu"?
Chiếc chiếu đặc biệt dùng để tiến vua của làng Cẩm Nê có kích thước như thế nào?
Ý nào dưới đây là đúng về tác dụng của việc lồng ghép câu chuyện về quá khứ làng nghề?
Ai là người cuối cùng hiện nay vẫn còn dệt chiếu ở làng Cẩm Nê?
Theo văn bản, việc làm chiếu cần có các nguyên liệu nào dưới đây?
Điều gì dưới đây cho thấy nghề dệt chiếu đã từng rất quan trọng với đời sống làng Cẩm Nê?
Việc bà Thông vẫn cố gắng dệt chiếu dù không có lời phản ánh điều gì dưới đây?
Chi tiết "tấm biển giới thiệu sản phẩm đã bạc màu" mang ý nghĩa nào dưới đây?
Câu văn "Cái nghề dệt chiếu như máu như thịt, là nghề gia truyền khi ông bà nội và cha mẹ bà cũng là những nghệ nhân dệt chiếu trong làng." sử dụng biện pháp tu từ nào dưới đây?
Những ý nào dưới đây là đúng về tác dụng của biện pháp tu từ so sánh trong câu văn "Cái nghề dệt chiếu như máu như thịt, là nghề gia truyền khi ông bà nội và cha mẹ bà cũng là những nghệ nhân dệt chiếu trong làng."? (Chọn 2 đáp án)
Những ý nào dưới đây là đúng về mục đích của văn bản "Nỗi buồn làng chiếu"? (Chọn 2 đáp án)
Văn bản sử dụng những phương tiện phi ngôn ngữ nào dưới đây? (Chọn 2 đáp án)
Việc tác giả cung cấp các số liệu cụ thể có tác dụng nào dưới đây?
Điền từ ngữ thích hợp vào chỗ trống.
Việc mô tả làng Cẩm Nê nay "đời sống khấm khá hơn, nhà 2 – 3 tầng…" cho thấy sự đổi thay rõ rệt của cuộc sống , đồng thời tạo nên sự đối lập với cảnh nghề dệt chiếu đang dần . Chi tiết này giúp nhấn mạnh nghịch lí: đời sống vật chất nhưng giá trị văn hoá truyền thống lại phai nhạt.
Ý nào dưới đây là đúng về giọng điệu chính của văn bản "Nỗi buồn làng chiếu"?
Ý nào dưới đây là đúng về thái độ của tác giả về sự mai một của làng chiếu Cẩm Nê?
Ý nào dưới đây là đúng về đặc điểm ngôn ngữ của văn bản "Nỗi buồn làng chiếu"?
Việc miêu tả quá trình dệt chiếu chi tiết (gặt lác, phơi, nhuộm, luồn, dệt,…) có tác dụng nào dưới đây?
Ý nào dưới đây là đúng về thông điệp có thể rút ra từ văn bản "Nỗi buồn làng chiếu"?
Điền từ ngữ thích hợp vào văn bản.
Từ văn bản, chúng ta có thể thấy nghề thủ công truyền thống hiện nay đang đối mặt với nhiều lớn. Sự phát triển của công nghiệp hoá khiến sản phẩm thủ công bị mạnh mẽ bởi hàng hoá giá rẻ, nhanh và đa dạng. Thế hệ trẻ ít mặn mà nối nghề, dẫn đến nguy cơ đứt gãy truyền thống. Bên cạnh đó, đầu ra và thu nhập thấp khiến nhiều nghệ nhân phải rời bỏ nghề. Tất cả những điều này cho thấy việc và vực dậy các làng nghề là một bài toán khó cần sự chung tay của cả cộng đồng và xã hội.
(Kéo thả hoặc click vào để điền)