Bài học cùng chủ đề
- Tri thức Ngữ văn
- Đọc: Hải khẩu linh từ - Đền thiêng cửa biển (Trích - Đoàn Thị Điểm)
- Muối của rừng (Trích - Nguyễn Huy Thiệp)
- Thực hành tiếng Việt: Nghệ thuật sử dụng điển cố trong tác phẩm văn học
- Viết bài văn nghị luận về việc vay mượn - cải biến - sáng tạo trong một tác phẩm văn học
- Thực hành đọc: Bến trần gian (Trích - Lưu Sơn Minh)
- Phiếu bài tập cuối chủ đề 4
Báo cáo học liệu
Mua học liệu
Mua học liệu:
-
Số dư ví của bạn: 0 coin - 0 Xu
-
Nếu mua học liệu này bạn sẽ bị trừ: 2 coin\Xu
Để nhận Coin\Xu, bạn có thể:
Phiếu bài tập cuối chủ đề 4 SVIP
Yêu cầu đăng nhập!
Bạn chưa đăng nhập. Hãy đăng nhập để làm bài thi tại đây!
Đọc văn bản và thực hiện yêu cầu bên dưới.
NGƯỜI NGHĨA PHỤ Ở KHOÁI CHÂU
(Lược dẫn phần đầu: Từ Đạt ở Khoái Châu, làm quan tại thành Đông Quan, kết thông gia với nhà quan Thiêm thư là Phùng Lập Ngôn. Con trai Phùng là Trọng Quỳ kết duyên với con gái Từ là Nhị Khanh. Nhị Khanh biệt cư xử khéo léo, được khen là người nội trợ hiền. Trọng Quỳ lớn lên, dần sinh chơi bời lêu lổng, Nhị Khanh thường vẫn can ngăn. Trong triều nhiều kẻ ghét Phùng Lập Ngôn, tiến cử vua cho ông đi dẹp giặc. Phùng Lập Ngôn để Nhị Khanh ở lại quê nhà, cùng con trai vào Nghệ An.)
Trọng Quỳ thấy Nhị Khanh không đi, có ý quyến luyến không dứt. Nhị Khanh ngăn bảo rằng:
– Nay nghiêm đường vì tính nói thẳng mà bị người ta ghen ghét, không để ở lại nơi khu yếu, bề ngoài là tiến cử đến chốn hùng phiên, bên trong thực dồn đuổi vào chỗ tử địa. Chả lẽ đành để cha ba đào muôn dặm, lam chướng nghìn trùng, hiểm nghèo giữa đám kình nghê, cách trở trong vùng lèo mán, sớm hôm không người săn sóc, không kẻ đỡ thay? Vậy chàng nên chịu khó đi theo. Thiếp đâu dám đem mối khuê tình để lỗi bề hiếu đạo. Mặc dầu cho phấn nhạt hương phai, hồng rơi tía rụng, xin chàng đừng bận lòng đến chốn hương khuê.
Sinh không đừng được, mới bày một bữa tiệc từ biệt, rồi cùng Lập Ngôn đem người nhà đi vào phương Nam. Không ngờ lòng giời khó hiểu, việc người khôn lường, cha mẹ Nhị Khanh nối nhau tạ thế. Nàng đưa tang về Khoái Châu, chôn cất cúng tế xong rồi, đến ở chung cùng với bà cô Lưu thị.
(Lược một đoạn: Bà cô Lưu thị có người cháu ngoại là quan tướng quân họ Bạch muốn lấy Nhị Khanh. Lưu thị bằng lòng, khôn khéo khuyên Nhị Khanh đồng ý, nhưng nàng một mực chối từ. Nhị Khanh nhờ người bõ già vốn là đầy tớ cũ, lặn lội vào xứ Nghệ để hỏi thăm tin tức thì gặp được Trọng Quỳ mới hay Phùng Lập Ngôn đã mất, gia sản không còn. Người bõ già đưa Trọng Quỳ về quê đoàn tụ. Trọng Quỳ vì quen phóng đãng nên qua lại cùng người lái buôn là Đỗ Tam bê tha lêu lổng. Đỗ ham Trọng Quỳ có vợ đẹp nên thường lấy lợi nhử anh. Nhị Khanh khuyên răn Trọng Quỳ cũng không được.)
Một hôm, Trọng Quỳ cùng các bè bạn họp nhau đánh tử sắc. Đỗ Tam bỏ ra trăm vạn đồng tiền để đánh và đòi Trọng Quỳ đánh bằng Nhị Khanh. Trọng Quỳ quen mùi vẫn được luôn, chẳng suy nghĩ gì, liền bằng lòng cách ấy. Giấy giao kèo viết xong rồi vừa uống rượu vừa gieo quân. Trọng Quỳ gieo ba lần đều thua cả ba, sắc mặt tái mét; cử toạ cũng đều ngơ ngác buồn rầu hộ.
Trọng Quỳ phải cho gọi Nhị Khanh đến, bảo rõ thực tình, đưa tờ giao kèo cho xem và yên ủi rằng:
– Tôi vì nỗi nghèo nó bó buộc, để luỵ đến nàng. Việc đã đến thế này, hối lại cũng không kịp nữa. Thôi thì bi hoan tản tụ cũng là việc thường của người ta. Nàng nên tạm về với người mới, khéo chiều chuộng hắn, rồi bất nhật tôi sẽ đem tiền đến chuộc.
Nàng liệu cơ không thể thoát khỏi, giả vờ nói tử tế rằng:
– Bỏ nghèo theo giàu, thiếp lẽ đâu từ chối. Số giời xếp đặt, há chẳng là tiền định hay sao! Nếu chồng mới không nỡ rẻ bỏ, còn đoái thu đến cái dung nhan tàn tạ này, thiếp xin sửa túi nâng khăn, hết lòng hầu hạ như đã đối với chàng xưa nay. Nhưng xin cho uống một chén rượu, mượn làm một chén tiễn biệt và cho về từ giã các con một chút.
Đỗ cả mừng, rót đầy một chén rượu xà cừ đưa mời nàng uống. Uống xong, nàng về nhà ôm lấy hai con, vỗ vào lưng mà bảo rằng:
– Cha con bạc tình, mẹ đau buồn lắm. Biệt li là việc thường thiên hạ, một cái chết với mẹ có khó khăn gì. Nhưng mẹ chỉ nghĩ thương các con mà thôi.
Nói xong, lấy đoạn dây tơ thắt cổ mà chết.
(Lược một đoạn: Sau khi vợ chết, Trọng Quỳ hối hận vô cùng. Một hôm, đi đường xa, ngủ dưới gốc cây thì được Nhị Khanh báo mộng, hẹn gặp ở đền Trưng Vương. Trọng Quỳ đúng hẹn đến trước đền, đợi từ chiều tà đến quá nửa đêm thì Nhị Khanh xuất hiện, báo tin cho Trọng Quỳ.)
Khi nói đến việc hiện thời, Nhị Khanh chau mày:
– Thiếp thường theo chầu tả hữu Đức Bà ở đây, được trộm nghe chư tiên nói chuyện với nhau, bảo Hồ triều sẽ hết vào năm Bính Tuất, binh cách nổi lớn, số người bị giết chóc đến chừng hơn 20 vạn, ấy là chưa kể số bị bắt cướp đi. Nếu không phải người trồng cây đức đã sâu e ngọc đá đều bị cháy cả. Bấy giờ có một vị chân nhân họ Lê, từ miền Tây Nam xuất hiện; chàng nên khuyên hai con bền chí đi theo vị ấy, thiếp dù chết cũng không nát.
Trời gần sáng, Nhị Khanh vội cáo biệt, vừa đi vừa ngoảnh đầu nhìn lại, rồi thoắt chốc thì biến đi mất.
Trọng Quỳ bèn không lấy ai nữa, chăm chỉ nuôi hai con cho nên người. Đến khi vua Lê Thái Tổ tuốt gươm đứng dậy ở Lam Sơn, hai người con trai đều đi theo, trải làm đến chức Nhập thị nội. Đến nay ở Khoái Châu hiện còn con cháu.
(Trích Truyền kì mạn lục, Nguyễn Dữ)
Văn bản "Người nghĩa phụ ở Khoái Châu" thuộc thể loại nào dưới đây?
Xác định phương thức biểu đạt chính của văn bản "Người nghĩa phụ ở Khoái Châu".
Văn bản "Người nghĩa phụ ở Khoái Châu" được trích từ tác phẩm nào dưới đây?
Sắp xếp các sự kiện dưới đây theo đúng trình tự nội dung của văn bản "Người nghĩa phụ ở Khoái Châu".
- Cha mẹ Nhị Khanh qua đời, nàng từ chối việc tái giá với quan tướng quân họ Bạch.
- Hai người con đi theo vua Lê Thái Tổ, làm đến chức Nhập thị nội.
- Nhị Khanh tự vẫn để bảo toàn danh dự cho bản thân khiến Trọng Quỳ rất ân hận.
- Trọng Quỳ trở về nhưng sa ngã, thường xuyên bê tha cờ bạc, đánh đổi Nhị Khanh cho Đỗ Tam.
- Nhị Khanh hiện về báo mộng cho Trọng Quỳ, tiết lộ về vận mệnh của đất nước và khuyên chàng nuôi dạy con cái.
- Phùng Lập Ngôn được tiến cử đi dẹp giặc, Trọng Quỳ theo cha.
Phùng Ngôn Lập bị ghét và được tiến cử đi dẹp giặc vì lí do nào dưới đây?
Chi tiết "Trong triều nhiều kẻ ghét Phùng Lập Ngôn, tiến cử vua cho ông đi dẹp giặc" gợi điều gì dưới đây?
Lời khuyên của Nhị Khanh khi Trọng Quỳ không muốn đi theo cha thể hiện điều gì về nhân vật này?
Hành động nào dưới đây thể hiện rõ nhất sự sa đoạ và bạc bẽo của Trọng Quỳ?
Nhận định nào dưới đây là đúng về thái độ của Trọng Quỳ sau khi Nhị Khanh qua đời?
Hành động của Trọng Quỳ sau khi Nhị Khanh qua đời cho thấy điều gì dưới đây?
Chi tiết Nhị Khanh hiện hồn về báo mộng cho Trọng Quỳ mang ý nghĩa nào dưới đây?
Hình ảnh "phấn nhạt hương phai, hồng rơi tía rụng" trong lời nói của Nhị Khanh thể hiện điều gì dưới đây?
Xác định các chi tiết hoang đường, kì ảo trong văn bản "Người nghĩa phụ ở Khoái Châu". (Chọn 2 đáp án)
Chi tiết Nhị Khanh sau khi chết được theo chầu tả hữu Đức Bà có những ý nghĩa nào dưới đây?
Hành động tự vẫn của Nhị Khanh sau khi bị chồng đem ra đánh cược thể hiện điều gì về nhân vật này?
Cái chết của Nhị Khanh thể hiện điều gì? (Chọn 2 đáp án)
Tấm lòng thuỷ chung son sắt của Nhị Khanh được thể hiện qua chi tiết nào dưới đây?
Nhận định nào dưới đây là đúng về đặc trưng ngôn ngữ của văn bản "Người nghĩa phụ ở Khoái Châu"?
Những nhận định nào dưới đây là đúng về giá trị hiện thực của văn bản "Người nghĩa phụ ở Khoái Châu"? (Chọn 2 đáp án)
Nhận định nào dưới đây là đúng về bài học có thể rút ra từ câu chuyện cuộc đời của nhân vật Trọng Quỳ?
Điền từ ngữ thích hợp vào chỗ trống.
Câu chuyện cuộc đời của Nhị Khanh gửi đến người đọc bài học sâu sắc về cách với nghịch cảnh. Dù phải chịu nhiều đớn đau, nàng vẫn giữ trọn lòng và sự nhân nghĩa, không để hoàn cảnh làm phẩm giá của bản thân. Qua đó, tác phẩm nhắc nhở chúng ta rằng với bất kỳ khó khăn nào, con người vẫn có thể vượt lên bằng sức mạnh của tình yêu, lòng và niềm tin vào .
(Kéo thả hoặc click vào để điền)
Điền từ ngữ thích hợp vào chỗ trống.
Điển tích, điển cố là những , sự việc hoặc lời văn được rút ra từ các , thường được các tác giả đời sau sử dụng một cách , hàm súc trong tác phẩm của mình.
Ý nào dưới đây là đúng về tác dụng của điển tích, điển cố?
Điển cố, điển tích được sử dụng trong văn bản của người Việt Nam thường có nguồn gốc từ đâu? (Chọn 2 đáp án)
Bấm chọn dòng thơ sử dụng điển tích, điển cố trong đoạn thơ dưới đây.
Rượu ngon không có bạn hiền,
Không mua không phải không tiền không mua.
Câu thơ nghĩ đắn đo không viết,
Viết đưa ai, ai biết mà đưa.
Giường kia treo cũng hững hờ,
Đàn kia gảy cũng ngẩn ngơ tiếng đàn.
Bác chẳng ở, dẫu van chẳng ở,
Tôi tuy thương, lấy nhớ làm thương;
Tuổi già hạt lệ như sương,
Hơi đâu chuốc lấy hai hàng chứa chan!
(Khóc Dương Khuê, Nguyễn Khuyến)
Bấm chọn điển tích, điển cố trong những dòng thơ dưới đây.
Vân Tiên tả đột hữu xung
Khác gì Triệu Tử mở vòng Đương Dương
(Lục Vân Tiên, Nguyễn Đình Chiểu)
Bấm chọn điển tích, điển cố trong những dòng thơ dưới đây.
Công danh nam tử còn vương nợ,
Luống thẹn tai nghe chuyện Vũ Hầu.
(Thuật hoài, Phạm Ngũ Lão)
Điền từ ngữ thích hợp vào chỗ trống.
Hai câu thơ "Công danh nam tử còn vương nợ, / Luống thẹn tai nghe chuyện Vũ Hầu" sử dụng điển cố Vũ Hầu – chỉ Gia Cát Lượng (Khổng Minh), vị quân sư tài giỏi và trung nghĩa thời Tam Quốc. Nhắc đến Vũ Hầu, tác giả Phạm Ngũ Lão bày tỏ nỗi và tự trách vì bản thân vẫn chưa lập được , sự nghiệp để giúp đời, giúp nước. Điển cố này không chỉ mẫu hình trung quân mà còn thể hiện chí làm trai, khát vọng công danh và tinh thần với xã hội của người trí thức xưa.
(Kéo thả hoặc click vào để điền)
Những ý nào dưới đây là đúng về yêu cầu của bài văn nghị luận về việc vay mượn − cải biến − sáng tạo trong một tác phẩm văn học? (Chọn 2 đáp án)
Điền từ ngữ thích hợp vào chỗ trống đề hoàn thành dàn ý cho bài văn nghị luận về việc vay mượn − cải biến − sáng tạo trong một tác phẩm văn học.
− Mở bài: Giới thiệu các thông tin về tác giả, tác phẩm, trọng tâm vấn đề (khía cạnh nào của sự vay mượn − cải biến) mà bài viết bàn luận.
− Thân bài: Cần triển khai các ý chính sau đây:
+ Nhận diện về , tính chất của việc tiếp nhận, chịu ảnh hưởng.
+ Phân tích, đánh giá sự vay mượn, tiếp nhận, chịu ảnh hưởng trên các phương diện cụ thể.
+ Phân tích, đánh giá những điểm cải biến, của tác giả trong quá trình vay mượn.
(Lưu ý: Việc sắp xếp hệ thống ý chính cần linh hoạt, phụ thuộc vào ý tưởng triển khai mạch nghị luận.)
− Kết bài: Chỉ ra của việc tìm hiểu sự vay mượn và cải biến trong tác phẩm.
(Kéo thả hoặc click vào để điền)