Bài học cùng chủ đề
Báo cáo học liệu
Mua học liệu
Mua học liệu:
-
Số dư ví của bạn: 0 coin - 0 Xu
-
Nếu mua học liệu này bạn sẽ bị trừ: 2 coin\Xu
Để nhận Coin\Xu, bạn có thể:
Đề thi thử tốt nghiệp THPT trường THPT Tầm Vu SVIP
I. ĐỌC HIỂU (4,0 điểm)
Đọc văn bản:
NẠN BUÔN BÁN NGƯỜI: TỪ BẪY "VIỆC NHẸ LƯƠNG CAO" ĐẾN NẠP MÌNH CHO TỘI PHẠM
(Bản tin VTV)
Khoảng 1 triệu người bị mua bán trên thế giới mỗi năm Khu vực Châu Á – Thái Bình Dương, nhất là các nước Tiểu vùng sông Mekong (trong đó có Việt Nam), tình hình tội phạm mua bán người ngày càng phức tạp, tinh vi. Tiếp cận, rủ rê, lôi kéo đi du lịch, đi làm thuê thu nhập cao, xuất khẩu lao động với chi phí thấp… nhưng để lừa bán, ép buộc, cưỡng bức lao động. Nhiều đường dây buôn bán người bất hợp pháp liên tục bị triệt phá nhờ sự phối hợp chặt chẽ của cơ quan chức năng của Việt Nam với các cơ quan nước ngoài trong việc giải cứu, bảo vệ, hỗ trợ nạn nhân.
Đây là một nhiệm vụ khó khăn phức tạp, đặc biệt là trong xu thế tình hình tội phạm trên thế giới và khu vực ngày càng gia tăng. Theo ước tính của Liên Hợp Quốc (LHQ), mỗi năm trên thế giới có khoảng 800.000 đến 1 triệu người bị mua bán. Như vậy có khoảng 3.000 người bị mua bán mỗi ngày. Song số vụ việc được đưa ra "ánh sáng" vẫn ở mức thấp so với thực tế và những đối tượng này vẫn nhởn nhơ ngoài vòng pháp luật.

Biểu đồ số nạn nhân thực trạng mua bán người phân theo khu
Khách quan mà nói, rõ ràng đây là thách thức với bất kỳ quốc gia nào. Cơ quan Cảnh sát Châu Âu ước tính rằng hơn 90% người di cư, trên hành trình đi tìm "miền đất hứa", đã ít nhất một lần sử dụng "dịch vụ" của những kẻ buôn người.
Hơn 150 quốc gia ở tất cả các châu lục đang phải đối mặt với loại hình tội phạm mua bán người. Theo thống kê của LHQ, có khoảng gần 25 triệu nạn nhân của nạn mua bán người trên khắp thế giới, trong đó có lao động cưỡng bức, nô lệ tình dục, buôn bán nội tạng, bắt cóc... Tuy nhiên, chỉ có khoảng 50.000 nạn nhân mua bán người được phát hiện, trong khi số tội phạm bị xử lý chỉ ở mức 3.500 trong số khoảng 510 đường dây buôn người trên toàn cầu. Trong số nạn nhân này, gần một nửa là phụ nữ, và gần 20% là trẻ em gái.
[…]
Nhiều thủ đoạn tiếp cận, lừa đảo tinh vi của các đường dây tội phạm
Kể từ năm 2011, Việt Nam đã có Luật phòng chống mua bán người, các quy định để xử lý loại tội phạm nguy hiểm và phi nhân tính này. Cơ quan chức năng cũng nỗ lực trong việc ngăn chặn và xử lý nghiêm các vụ việc mua bán người. Tuy nhiên, việc đi lại giữa các quốc gia, các châu lục ngày càng mở rộng như hiện nay một mặt tạo điều kiện thúc đẩy các hoạt động giao thương, du lịch ngày càng thuận lợi. Mặt khác, nó cũng khiến cho hoạt động mua bán người ngày càng trở nên tinh vi và phức tạp, khó đối phó.
Phần lớn nạn nhân bị lừa bán sang Campuchia thời gian gần đây đều thông qua mạng xã hội. Các đối tượng sử dụng thông tin giả để dụ dỗ, tạo lòng tin, lừa gạt nạn nhân. Nhẹ dạ với lời hứa việc nhẹ, lương cao, nhiều người vượt biên trái phép, tự nạp mình cho đường dây tội phạm.
Họ vừa là nạn nhân, vừa vi phạm pháp luật. Việc giải cứu họ khỏi những "miệng hố tử thần" vì thế tùy thuộc rất nhiều vào sự phối hợp của lực lượng chức năng sở tại.
Việc điều tra, xử lý các đối tượng theo đúng tội danh mua bán người cũng không đơn giản. Bởi các đối tượng sử dụng những thủ đoạn tiếp cận, lừa đảo, tổ chức mua bán tinh vi, lại diễn ra trên nước khác…
(Ban thời sự, Bản tin VTV, Trích Nạn buôn bán người: từ bẫy "việc nhẹ lương cao" đến nạp mình cho tội phạm, https://vtv.vn/xa-hoi/nan-buon-ban-nguoi-tu-bay-viec-nhe-luong-cao-den-nap-minh-cho-toi-pham, đăng ngày 30/07/2022)
Thực hiện các yêu cầu:
Câu 1. Chỉ ra cách trình bày thông tin trong văn bản trên.
Câu 2. Theo văn bản, khu vực nào có tình hình tội phạm mua bán người ngày phức tạp, tinh vi nhất trong những năm gần đây?
Câu 3. Nêu tác dụng của việc sử dụng biểu đồ số liệu của văn bản trên.
Câu 4. Nhận xét về quan điểm và thái độ của người viết đối với nạn buôn người.
Câu 5. Văn bản trên cung cấp cho anh/chị những nhận thức bổ ích gì? (Trình bày 5 – 7 dòng)
Hướng dẫn giải:
Câu 1. Cách trình bày thông tin trong đoạn trích theo trật tự logic: Nêu thực trạng (Nạn buôn người đang diễn ra ngày càng phức tạp ở nhiều quốc gia) → Các số liệu thống kê → Nêu nguyên nhân → Đánh giá vấn đề.
Câu 2. Theo thông tin văn bản, khu vực có tình hình tội phạm mua bán người ngày càng phức tạp, tinh vi nhất trong những năm gần đây:
Khu vực Châu Á – Thái Bình Dương, nhất là các nước Tiểu vùng sông Mekong (trong đó có Việt Nam).
Nêu tác dụng của việc sử dụng biểu đồ số liệu của văn bản trên:
– Biểu đồ được dùng: số nạn nhân thực trạng mua bán người phân theo khu vực.
– Tác dụng:
+ Làm cho văn bản trở nên cụ thể, sinh động, xác thực.
+ Giúp người đọc có sự tin cậy, thuyết phục trước thực trạng buôn người diễn ra phổ biến và phức tạp ở nhiều khu vực.
Câu 4. Nhận xét về quan điểm và thái độ của người viết đối với nạn buôn người:
– Quan điểm: Vạch rõ nguyên nhân từ bẫy “việc nhẹ lương cao” và các thủ đoạn tiếp cận, lừa đảo tinh vi của nạn buôn người.
– Thái độ: Tố cáo, lên án kẻ phạm tội; đồng thời cảnh báo cho cả xã hội nguy cơ tiềm ẩn trong đời sống, kiên quyết chống lại nạn buôn người.
Câu 5. Văn bản trên cung cấp cho anh/chị những nhận thức bổ ích gì? (Trình bày 5 – 7 dòng)
Gợi ý:
– Hiểm hoạ buôn người đang diễn ra phổ biến, tinh vi khắp nơi.
– Cần tỉnh táo, nhận thức rõ về những biểu hiện rơi vào bẫy buôn người.
– Cùng chung tay chống nạn buôn người bằng nhiều giải pháp.
– …
II. VIẾT (6,0 điểm)
Câu 1. (2,0 điểm)
Anh/Chị hãy viết đoạn văn nghị luận (khoảng 200 chữ) bàn luận về quan điểm: đi xin việc với yêu cầu “việc nhẹ lương cao” trong giới trẻ hiện nay.
Câu 2. (4,0 điểm)
Anh/Chị hãy viết bài văn nghị luận (khoảng 600 chữ) so sánh, đánh giá hai đoạn thơ sau:
Đất nước
Của thơ ca
Của bốn mùa hoa nở
Đọc trang Kiều tưởng câu hát dân gian
Nghe xôn xao trong gió nội mây ngàn
Đất nước
Của những dòng sông
Gọi tên nghe mát rượi tâm hồn
Ngọt lịm những giọng hò xứ sở
Trong sáng như trời xanh, mượt mà như nhung lụa
Đất nước
Của những người mẹ
Mặc áo thay vai
Hạt lúa củ khoai
Bền bỉ nuôi chồng, nuôi con chiến đấu
(Nam Hà, trích Chúng con chiến đấu cho Người sống mãi Việt Nam ơi!, Báo Phụ nữ quân đội nhân dân Việt Nam https://phunuquandoi.vn/tac-gia-tac pham/chung-con-chien-dau-cho-nguoi-song-mai-viet-nam-oi, 09/4/2025)
Kiều mãi đẹp khi đất nước vào xuân
Em vẫn thảo thơm dịu dàng như cô Tấm
Đất nước trải bao mùa binh biến
Tổ quốc sáng ngời... “Đại cáo bình Ngô”
Tổ quốc mình chỉ một mẹ thôi
Chân lấm bùn áo nâu sồng vẫn vậy
Dạy con biết ngọn nguồn sau trước
Qua cay đắng tìm đến ngọt ngào
Đất nước hằn sâu trong những lời ca dao
Yêu biết mấy những đảo chìm, đảo nổi
Từ Hoàng Sa cho đến Trường Sa
Tổ quốc thiêng liêng trong mỗi cuộc đời.
(Nguyễn Tiến Đường, trích Tổ quốc chỉ một mẹ thôi, Báo Pháp luật, https://baophapluat.vn/dang-hinh-to-quoc-post329671.html, 09/4/2025)
Hướng dẫn giải:
Câu 1.
Đoạn văn đáp ứng được các yêu cầu sau:
a. Yêu cầu chung: Xác định đúng vấn đề nghị luận; đảm bảo yêu cầu về hình thức, dung lượng:
– Vấn đề nghị luận: Nêu quan điểm đi xin việc với yêu cầu “việc nhẹ lương cao” trong giới trẻ hiện nay.
– Hình thức: Có thể trình bày đoạn văn theo cách diễn dịch, quy nạp, phối hợp,…
– Dung lượng: Khoảng 200 chữ.
b. Yêu cầu cụ thể: Thí sinh triển khai đoạn văn theo trình tự hợp lí và sử dụng đúng các kĩ năng nghị luận.
b1. Bàn luận về quan điểm “việc nhẹ lương cao”:
– Giải thích quan điểm “việc nhẹ lương cao”.
– Nguyên nhân: Năng lực kém; sự lười biếng trong lao động, ngộ nhận về tính chất công việc; sự giăng bẫy từ các nhà tuyển dụng,…
– Hậu quả: Không phát triển được bản thân, thiếu tình yêu nghề, ham muốn phi lí này khiến giới trẻ bị dụ dỗ, rơi vào nhiều cạm bẫy của kẻ xấu,…
– Kết hợp phân tích và dẫn chứng thực tế.
– Đề xuất quan điểm và hành động đúng: Nhận thù lao tương xứng với công sức và nỗ lực; nâng cao năng lực và nhận thức ngày càng tiến bộ, có thái độ chân thành để tìm công việc tốt.
b2. Đánh giá vấn đề:
– Nếu các bạn trẻ không bỏ công sức lao động bằng bàn tay, khối óc sẽ chẳng bao giờ nhận được thành quả.
– Tiền không thể từ trên trời rơi xuống, có thể các bạn phải trả giá vì lòng tham và sự lười biếng của bản thân mình.
b3. Sáng tạo:
– Có những ý đột phá, vượt ra ngoài đáp án nhưng có sức thuyết phục
– Có cách diễn đạt tinh tế, độc đáo.
Câu 2.
Bài văn đáp ứng được các yêu cầu sau:
a. Yêu cầu chung: Xác định đúng vấn đề nghị luận; đảm bảo yêu cầu về dung lượng và sử dụng dẫn chứng
– Vấn đề nghị luận: So sánh, đánh giá hai đoạn thơ (trích trong “Chúng con chiến đấu cho Người sống mãi Việt Nam ơi!” – Nam Hà và “Tổ quốc chỉ một mẹ thôi,” – Nguyễn Tiến Đường).
– Dung lượng: Khoảng 600 chữ.
– Dẫn chứng: Trích dẫn từ hai đoạn thơ.
b. Yêu cầu cụ thể: Thí sinh triển khai bài viết theo trình tự hợp lí và sử dụng đúng các kĩ năng nghị luận.
b1. Viết được mở bài và kết bài cho bài văn nghị luận văn học:
– Mở bài: Giới thiệu được vấn đề nghị luận.
– Kết bài: Khẳng định được vấn đề nghị luận.
b2. Phân tích, chứng minh vấn đề nghị luận:
b2.1. Điểm giống nhau:
– Về đề tài và cảm hứng chủ đạo: Cả hai đoạn thơ đều lấy cảm hứng từ hình tượng đất nước, mang đậm tình yêu, niềm tự hào dân tộc, thể hiện lòng biết ơn và tôn vinh những vẻ đẹp về cả vật chất lẫn tinh thần của Tổ quốc.
– Về phương thức thể hiện cảm xúc:
+ Cả hai đều chọn nhân vật trữ tình ẩn danh, từ đó làm nổi bật cảm xúc chung của cộng đồng, của nhân dân.
+ Thể thơ tự do được sử dụng, phù hợp với cảm xúc dạt dào, phóng khoáng về đất nước.
+ Từ ngữ, hình ảnh đều giàu tính biểu cảm, gợi liên tưởng đến vẻ đẹp thiên nhiên, con người và giá trị văn hóa của dân tộc Việt Nam.
b2.2. Điểm khác nhau:
– Về mạch triển khai tư tưởng:
+ Bài thơ của Nam Hà triển khai theo mạch điệp cấu trúc, sử dụng hình ảnh gần gũi (thơ ca, dòng sông, người mẹ) để miêu tả những vẻ đẹp dung dị, thiêng liêng của đất nước. → Xúc cảm được đánh thức từ những điều cụ thể, bình dị, đời thường: Gia đình, dòng sông, câu hát dân gian.
+ Bài thơ của Nguyễn Tiến Đường lại có mạch triển khai từ cảm nhận cụ thể đến khái quát: Từ vẻ đẹp của thiên nhiên, lịch sử, con người để đưa đến một định nghĩa sâu sắc về đất nước như một người mẹ – biểu tượng duy nhất và thiêng liêng. → Xúc cảm phát triển theo hướng chiêm nghiệm triết lí.
– Về giọng điệu, nghệ thuật:
+ Nam Hà dùng giọng điệu mạnh mẽ, sục sôi, hòa cùng không khí của kháng chiến. Ngôn ngữ gần gũi, mộc mạc. Biện pháp nghệ thuật nổi bật là điệp cấu trúc nhằm tạo điểm nhấn cho các tầng nghĩa.
+ Nguyễn Tiến Đường sử dụng giọng điệu thâm trầm, sâu lắng, từ ngữ có tính khái quát cao. Hình ảnh ẩn dụ, so sánh phong phú, đặc biệt là hình tượng “mẹ” – hình ảnh trung tâm gợi chiều sâu văn hóa, cảm xúc.
b3. Lí giải vì sao có điểm tương đồng, khác biệt:
– Tương đồng:
+ Đất nước là nguồn cảm hứng thiêng liêng, trường tồn trong thơ ca Việt Nam.
+ Cả hai nhà thơ đều có tình yêu quê hương đất nước mãnh liệt, thể hiện qua những vần thơ thấm đẫm cảm xúc và trách nhiệm.
– Khác biệt:
+ Xuất phát từ bối cảnh lịch sử khác nhau: Nam Hà viết trong thời chiến, còn Nguyễn Tiến Đường viết trong thời bình.
+ Sự khác biệt về cái nhìn đối với nghệ thuật, trải nghiệm sống, thế hệ đã làm nên hai cách cảm nhận – một hào sảng, quyết liệt; một sâu lắng, suy tư.
b4. Đánh giá:
– Mỗi áng thơ là minh chứng cho tài năng độc đáo của mỗi tác giả.
– Mỗi áng thơ in dấu một thời đại, một phong cách, một tâm hồn, cùng góp phần làm giàu thêm nền văn học dân tộc, đồng thời khẳng định sức sống mãnh liệt của thi ca về đề tài Đất nước.
b5. Sáng tạo:
– Có những ý đột phá, vượt ra ngoài đáp án nhưng có sức thuyết phục.
– Có cách diễn đạt tinh tế, độc đáo.