Bài học cùng chủ đề
Báo cáo học liệu
Mua học liệu
Mua học liệu:
-
Số dư ví của bạn: 0 coin - 0 Xu
-
Nếu mua học liệu này bạn sẽ bị trừ: 2 coin\Xu
Để nhận Coin\Xu, bạn có thể:
Đề thi thử tốt nghiệp THPT năm 2026 tỉnh Bắc Ninh SVIP
Đọc đoạn trích sau:
Trên đời này vốn không có việc gì hoàn mỹ, càng không có người hoàn hảo. Ai cũng có khuyết điểm và ưu điểm. Chúng ta không nên chỉ nhắm vào khuyết điểm của người khác, mà hãy biết tán thưởng và khẳng định, cổ vũ điểm tốt của họ. Như thế chúng ta mới có thể cho người khác dũng khí và sức mạnh, mới khiến người khác cảm nhận được sự chân thành và thiện ý của mình, mới được người khác tin tưởng và tôn trọng.
[…]
Đại dương rộng lớn mới có thể chứa được ngàn sông, người có tấm lòng độ lượng mới có thể bao dung tất cả. Bao dung và tán thưởng người khác không chỉ là thái độ mà còn là một phong độ đỉnh cao.
Đại danh hào nổi tiếng nước Pháp Victor Hugo đã từng nói: "Thứ rộng lớn nhất thế gian là biển cả, rộng hơn biển cả là bầu trời, rộng hơn bầu trời chính là lòng người". Thật vậy, trên thế giới này không có không gian nào rộng hơn lòng người. Cho nên chúng ta đừng bao giờ tự coi nhẹ bản thân, cũng đừng tự cao tự đại, hãy dùng tấm lòng rộng lượng của mình để bao dung cuộc sống, tán thưởng ưu điểm của người khác. Như thế không những chúng ta có tự tin và niềm khích lệ, mà còn thể hiện được tầm nhận thức và khẳng định mình.
(Trích Không tức giận, bạn đã thắng, Hoa Dương, NXB Thế giới, 2023, tr.283-284)
Thực hiện các yêu cầu:
Câu 1. Xác định vấn đề nghị luận của đoạn trích.
Câu 2. Chỉ ra biện pháp liệt kê được sử dụng trong câu văn: Như thế chúng ta mới có thể cho người khác dũng khí và sức mạnh, mới khiến người khác cảm nhận được sự chân thành và thiện ý của mình, mới được người khác tin tưởng và tôn trọng.
Câu 3. Phân tích hiệu quả của việc trích dẫn ý kiến: "Thứ rộng lớn nhất thế gian là biển cả, rộng hơn biển cả là bầu trời, rộng hơn bầu trời chính là lòng người.".
Câu 4. Nhận xét quan điểm của người viết được thể hiện trong câu văn sau: Cho nên chúng ta đừng bao giờ tự coi nhẹ bản thân, cũng đừng tự cao tự đại, hãy dùng tấm lòng rộng lượng của mình để bao dung cuộc sống, tán thưởng ưu điểm của người khác.
Câu 5. Theo anh/chị, tán thưởng có đồng nghĩa với những lời khen thiếu chân thật hay không? Vì sao?
Hướng dẫn giải:
Câu 1 (0,5 điểm).
Vấn đề nghị luận của văn bản: Ý nghĩa và sự cần thiết của việc bao dung, tán thưởng người khác trong cuộc sống.
Câu 2 (0,5 điểm).
Biện pháp liệt kê: Dũng khí, sức mạnh, chân thành, thiện ý, tin tưởng, tôn trọng.
Câu 3 (1,0 điểm).
− Đó là ý kiến của đại danh hào nổi tiếng nước Pháp Victor Hugo.
− Hiệu quả:
+ Góp phần làm tăng sức thuyết phục và độ tin cậy cho lập luận của văn bản.
+ Làm sáng tỏ vấn đề nghị luận, giúp người đọc nhận ra chiều sâu và sự rộng lớn của lòng người, từ đó khẳng định bao dung là một giá trị cao đẹp.
+ Thể hiện những suy ngẫm sâu sắc, giàu tính chiêm nghiệm của tác giả về con người và cuộc sống.
Câu 4 (1,0 điểm).
− Quan điểm của người viết: Khuyên mỗi người cần có thái độ sống cân bằng, không tự ti cũng không tự cao; biết tôn trọng bản thân, mở lòng bao dung, tán thưởng người khác.
− Nhận xét: Quan điểm đúng đắn, tích cực và giàu ý nghĩa nhân văn, góp phần giúp mỗi người hoàn thiện nhân cách, vun đắp những mối quan hệ tốt đẹp và hướng tới một lối sống hài hoà trong xã hội.
Câu 5 (1,0 điểm).
− HS trả lời theo quan điểm cá nhân và đưa ra lí giải phù hợp.
− Gợi ý trả lời:
+ Tán thưởng không đồng nghĩa với những lời khen thiếu chân thật.
+ Vì: Sự tán thưởng chân thành xuất phát từ cảm xúc thật, nhằm động viên và lan toả những giá trị tích cực; trong khi đó, những lời khen thiếu chân thực, mang tính hình thức hay nịnh bợ lại dễ khiến người được khen rơi vào ảo tưởng về bản thân, từ đó đánh mất động lực phấn đấu.
Câu 1. (2,0 điểm)
Từ nội dung đoạn trích ở phần Đọc hiểu, viết đoạn văn nghị luận (khoảng 200 chữ) trình bày suy nghĩ của anh/chị về sự cần thiết phải biết công nhận ưu điểm của người khác trong cuộc sống.
Câu 2. (4,0 điểm)
Anh/Chị hãy viết bài văn nghị luận (khoảng 600 chữ) so sánh, đánh giá vẻ đẹp của bức tranh mùa thu trong hai đoạn thơ sau:
Thăm thẳm trời xanh lộng đáy hồ,
Mùi hoa thiên lý thoảng chiều thu.
Con cò bay lả trong câu hát,
Giấc trẻ say dài nhịp võng ru.
Lá thấp cành cao gió đuổi nhau,
Góc vườn rụng vội chiếc mo cau.
Trái na mở mắt, nhìn ngơ ngác,
Đàn kiến trường chinh từ thuở nào.
Lúa trổ đòng tơ, ngậm cốm non,
Lá dài vươn sắc lưỡi gươm con.
Tiếng chim mách lẻo cây hồng chín,
Điểm nhạt da trời những chấm son.
(Trích Chiều thu, Nguyễn Bính, Văn học Việt Nam thế kỷ XX, NXB Văn học, 2010, tr. 269)
Chiều thu trong, lá trúc vờn đẹp quá,
Lá mía xanh nhung quạt vào mái rạ
Tiếng lao xao như ai ngả nón chào.
Hoa mướp cuối mùa vàng rực như sao,
Giếng trong lẻo, trời xanh in thăm thẳm.
Chiều thu quê hương sao mà đằm thắm.
Tôi bước giữa vườn, bạn với hàng cau
Hút nắng tơ vàng như những đài cao
Đứng lồng lộng, thu tiếng chiều vàng rợi.
Vồng khoai lang xoè lá ra nằm sưởi
Cùng với gà mẹ xoè cánh ấp con.
Ở trước sân nhà mấy đống gạch son,
Hố vôi trắng nằm đợi ngày xây dựng.
(Trích Chiều thu quê hương, Huy Cận, Văn học Việt Nam thế kỷ XX, NXB Văn học, 2010, tr. 728)
Hướng dẫn giải:
Câu 1.
Đoạn văn đáp ứng được các yêu cầu sau:
a. Yêu cầu chung (0,5 điểm): Xác định đúng vấn đề nghị luận; bảo đảm yêu cầu về hình thức, dung lượng và sử dụng bằng chứng.
− Vấn đề nghị luận: Sự cần thiết phải biết công nhận ưu điểm của người khác trong cuộc sống.
− Hình thức: Có thể trình bày đoạn văn theo cách diễn dịch, quy nạp, phối hợp, song song,…
− Dung lượng: Khoảng 200 chữ.
− Bằng chứng: Từ thực tế cuộc sống.
b. Yêu cầu cụ thể (1,5 điểm): Học sinh triển khai đoạn văn theo trình tự hợp lí và sử dụng đúng các kĩ năng nghị luận.
b1. Giải thích: Công nhận ưu điểm của người khác là biết nhìn nhận đúng đắn những giá trị và điểm mạnh ở những người xung quanh, đồng thời bày tỏ sự trân trọng và tán thưởng họ một cách chân thành.
b2. Bàn luận:
− Cần học cách công nhận ưu điểm của người khác bởi mỗi người đều có điểm mạnh, điểm yếu riêng và đều xứng đáng được tôn trọng, bao dung và ghi nhận.
− Khi biết công nhận ưu điểm của người khác, chúng ta có cơ hội mở rộng tầm nhìn, học hỏi những điều tốt đẹp, từ đó tự điều chỉnh và phát triển bản thân; đồng thời, sự ghi nhận ấy cũng mang lại niềm vui, sự khích lệ cho người được công nhận, giúp họ có thêm động lực phấn đấu; qua đó góp phần xây dựng môi trường sống và làm việc văn minh, tích cực.
− Tuy nhiên, nếu chỉ công nhận ưu điểm mà thiếu đi sự góp ý, phê bình đúng mực, không nhìn nhận hạn chế thì dễ dẫn đến cách đánh giá chủ quan, phiến diện.
(HS lấy được bằng chứng phù hợp)
b3. Sáng tạo:
− Có những ý đột phá, vượt ra ngoài Đáp án nhưng có sức thuyết phục.
− Có cách diễn đạt tinh tế, độc đáo.
Câu 2.
Bài văn đáp ứng được các yêu cầu sau:
a. Yêu cầu chung (1,0 điểm): Xác định được yêu cầu nghị luận, đảm bảo yêu cầu về hình thức, dung lượng.
− Vấn đề nghị luận: So sánh vẻ đẹp của bức tranh mùa thu trong hai đoạn thơ Chiều thu (Nguyễn Bính) và Chiều thu quê hương (Huy Cận).
− Dung lượng: Khoảng 600 chữ.
b. Yêu cầu cụ thể: Học sinh triển khai bài viết theo trình tự hợp lí và sử dụng đúng các kĩ năng nghị luận.
b1. Viết được mở bài và kết bài cho bài văn nghị luận văn học.
− Mở bài: Giới thiệu được vấn đề nghị luận.
− Kết bài: Khẳng định được vấn đề nghị luận.
b2. So sánh điểm giống và khác nhau của bức tranh mùa thu trong hai đoạn trích thơ.
* Điểm giống:
− Nội dung: Cả hai đoạn thơ đều thể hiện những rung cảm tinh tế, sâu sắc trước vẻ đẹp quen thuộc, bình dị của bức tranh mùa thu nơi làng quê Việt Nam; qua đó bộc lộ tình yêu tha thiết đối với thiên nhiên, quê hương, đất nước.
− Nghệ thuật: Hai đoạn trích đều sử dụng ngôn ngữ giàu hình ảnh, giàu cảm xúc; vận dụng hiệu quả các biện pháp tu từ; giọng điệu trữ tình, giàu sức gợi;...
* Điểm khác:
− Nội dung:
+ Bức tranh mùa thu trong Chiều thu (Nguyễn Bính) hiện lên với vẻ đẹp yên bình, dung dị, đậm chất thơ và gần gũi với đời sống thôn quê qua những hình ảnh như mùi hoa thiên lý, con cò, võng ru, mo cau, trái na,…
+ Bức tranh mùa thu trong Chiều thu quê hương (Huy Cận) mang sắc thái tươi sáng, rực rỡ, gắn với nhịp sống lao động mới ở nông thôn qua những hình ảnh như lá mía xanh, hoa mướp cuối mùa vàng rực, giếng trong lẻo, trời xanh, vàng rợi, mấy đống gạch son, hố vôi trắng,…
− Nghệ thuật:
+ Chiều thu (Nguyễn Bính) được viết theo thể thơ bảy chữ; nhịp thơ chậm rãi, sâu lắng; giọng điệu nhẹ nhàng, trong trẻo, phảng phất nỗi buồn; hình ảnh gần gũi với ca dao, dân ca.
+ Chiều thu quê hương (Huy Cận) được viết theo thể thơ tám chữ; nhịp thơ linh hoạt; giọng điệu rộn rã, tươi vui; hình ảnh phong phú, giàu màu sắc.
b3. Lí giải sự giống và khác nhau.
* Giống nhau: Do sự tương đồng về đề tài và cảm hứng chủ đạo khi cùng hướng tới vẻ đẹp của mùa thu làng quê Việt Nam.
* Khác nhau: Do sự khác biệt về hoàn cảnh sáng tác cũng như phong cách nghệ thuật riêng của mỗi tác giả.
b4. Đánh giá.
Sự tương đồng và khác biệt của bức tranh mùa thu trong hai đoạn trích đã góp phần làm nổi bật vẻ đẹp đa dạng, nhiều sắc thái của mùa thu làng quê Việt Nam ở những góc nhìn khác nhau; đồng thời thể hiện tình yêu quê hương, đất nước sâu sắc cùng dấu ấn phong cách nghệ thuật riêng và cảm hứng thẩm mĩ độc đáo của mỗi nhà thơ.
b5. Sáng tạo.
− Có những ý đột phá, vượt ra ngoài Đáp án nhưng có sức thuyết phục.
− Có cách diễn đạt tinh tế, độc đáo.