Báo cáo học liệu
Mua học liệu
Mua học liệu:
-
Số dư ví của bạn: 0 coin - 0 Xu
-
Nếu mua học liệu này bạn sẽ bị trừ: 2 coin\Xu
Để nhận Coin\Xu, bạn có thể:
Đề thi thử tốt nghiệp THPT năm 2026 phát triển đề minh hoạ 2025 liên trường THPT sở GD&ĐT Nghệ An SVIP
Đọc đoạn trích:
[Giới thiệu: Lê Minh Khuê là một trong những nhà văn tiêu biểu của thời kì đổi mới. Truyện của bà thiên về cuộc sống đời thường, có khả năng bao quát và gợi ra nhiều suy ngẫm về nhân sinh, thế sự với nghệ thuật trần thuật đa dạng, sử dụng linh hoạt những điểm nhìn khác nhau…
Truyện ngắn Ga xép kể về cuộc đời ông Lăng. Ông sống trong ngôi nhà có từ đời ông nội, chứng kiến sự mất tích bí ẩn của cha, sự chờ đợi mỏi mòn của mẹ, hành động hi sinh của em trai. 16 tuổi ông đi lính, rồi trở thành một nhà báo, cuối đời lại quay về sống trong ngôi nhà cũ với ám ảnh về linh hồn người cha và kí ức về mẹ. Ông Lăng có hai đứa con gái học giỏi, ngoan ngoãn, nhưng chúng khiến ông vô vọng vì đều lấy chồng ngoại quốc và theo chồng xa xứ. Mải chạy theo tình yêu, chúng đã không cảm nhận được nỗi cô đơn của cha khi phá cái nhà cũ, xây cho ông "một ngôi nhà sặc sỡ kiểu cách kì quặc" và "rải tiền lo cho ông"…]
Ông đã đi quá nhiều. Có lẽ lỗi do ông đi nhiều. Ông đã dựa vào người em ruột, liệt sĩ thời chống Pháp để lý lịch của ông qua được cái cửa khẩu khó nhất, để hành nghề, để đi. Bao nhiêu bâng khuâng ở các phương trời xa lạ. Một lần ở hành lang khách sạn gần vùng Si-bê-ri, một thiếu nữ làm quen với ông. Khi chia tay, nàng ghi cho ông cái địa chỉ bằng tiếng Nga. Quê nàng ở thượng nguồn sông Amua, phần chảy qua nước Nga vĩ đại. Cho đến bây giờ ông vẫn cảm thấy chống chếnh khi nghĩ tới cái làng nào đấy ở bên sông Amua. Làm sao ông có thể đến được con sông ấy. Nó ở đâu, cái làng như hạt bụi trên vùng đất bao la? Sau chiến tranh, ông đi khắp nơi. Tận một hòn đảo xa tít ngoài Thái Bình Dương, ông cũng gặp người Việt. Trong một ngôi làng hẻo lánh gần rừng Amazôn, một người đàn ông đón xe của ông đi qua. Đôi mày lưỡi mác đặc trưng của đồng bằng Bắc bộ, đôi mắt nhỏ xếch như hai sợi chỉ trên gò má cao đỏ bầm… Một người Việt Nam chính hiệu ra đi từ những năm năm mươi. Giọt nước mắt của con người lưu lạc đó nhỏ vào bàn tay ông, khi ông nắm tay anh ta. Anh ta quên cả tiếng Việt rồi. Đằng sau anh ta là một người đàn bà da đỏ có hai gò má như tạc bằng đất sét. Ông thương những con người đơn lẻ phải thích nghi với xứ người. Nhưng một lần tới New York, vô tình ông rẽ ngoặt sang phía khác khi thấy mấy người Việt đi tới. Ông lúng túng không muốn đối thoại. Cái quả bom của chiến tranh nhiều phía đã nổ tung đất nước ông. Những con người tung tóe khắp hành tinh, mang theo những hận thù, để lại nhiều nghi kỵ.
Bất hạnh thay một xứ sở trong đó người ta chẳng được ở yên một chỗ. Sinh con đẻ cái trong một mái nhà, già đi và chết trong mái nhà ấy, với những đồ vật "hai mươi năm vẫn chạy tốt".
Ông nói với mấy đứa con cái ý nghĩ về mái nhà, về vùng đất. Hai đứa đều cười. Thượng đế sinh ra con người trên mặt đất. Cũng cây cỏ ấy cũng mặt trời ấy. Ai muốn sống ở đâu thì sống. Tổ quốc là mặt trái đất này. Cha già rồi, cha nghĩ những điều cạn hẹp. Chúng con như cái áo phông cái quần bò. Ở đâu có người ở đó sống tốt. Lúc này cả trái đất đều mặc áo phông quần bò. Biên giới sẽ chẳng còn ý nghĩa gì đâu cha.
Ông lặng thinh. Chúng nó có lí của chúng nó. Nhưng chúng nó đặt ông vào trào lưu áo phông quần bò của chúng, chúng thực tàn nhẫn. Chúng đang giết ông khi chúng phá cái nhà cũ của ông, chúng xách va-li ra đi khi cái chết đang vỗ cánh trên đầu ông.
Ông ngủ lơ mơ trong cái giường đệm với những chồng gối cao xa lạ trong ngôi nhà mới. Một cái bóng sượt qua mặt ông, có thực, không phải cảm giác. Và một tiếng rên đau đớn, ông nghe rõ.
Ông ngồi bật dậy bất giác kêu lên: Cha ơi! Nhưng tất cả lại tĩnh lặng.
Dạo hai đứa con mới đi theo tình yêu, ông ở lại ngôi nhà một tầng cũ đến nỗi khi mưa lâu, mái ngói bốc lên mùi rêu ẩm ướt. Ông đi chơi với mấy người bạn già, ông về cái nhà rêu mốc thấy an tâm, ngồi uống nước trà, đọc những cuốn sách đã cũ. Ông chờ đợi những đứa con trở về. Những con người đã chết, chủ nhân đích thực của ngôi nhà cũng thấy yên ổn khi ẩn nấp sau cửa bức bàn, sau cái tủ gỗ có từ đầu thế kỉ. Ông ở trong ngôi nhà, đêm đêm cảm thấy có nhiều đôi mắt âu yếm dõi theo. Ông sống với những linh hồn, và chờ đợi…
Cái thời ông mặc chiếc quần sooc nhỏ xíu, cởi trần cùng thằng em trèo lên cây sấu trước cửa rung cành cho sấu chín rụng lộp bộp trên mái ngói, là thời người ta thấy có lí khi sinh ra đời. Cái thời thanh bình ấy chỉ là khoảnh khắc. Ông không hề thấy đời mình thanh bình. Lúc nào cũng có cái gì đó đập vào tai: tiếng còi hụ báo máy bay, tiếng bom xé màng tai, tiếng kêu gọi tản cư, kêu gọi lên đường, kêu gọi tẩy chay ai đó, tuyên dương ai đó, tiếng loa báo những chuyến tàu chạy ở nhà ga, tiếng mẹ ông giục: nhanh nhanh lên các con! Đời của một người Việt đầy ắp những âm thanh hối hả. Cuộc sống như chuyến tàu chợ, hành lí nhặt nhạnh tạm bợ, mặt mũi bơ phờ. Chuyến tàu đôi khi dừng ở ga xép cho người ta xuống xả hơi tí chút. Trong cái ga xép ấy là một thoáng bình yên như không có thực. Người ta làm một mái nhà, trồng một vụ rau, cưới vợ cho con, có một đứa cháu, có một chút kỉ niệm… Rồi lại bỏ tất cả, lên một con tàu chạy không có chỗ dừng cố định. Nhưng lạ thay, ông thường xuyên quên hẳn tiếng rin rít của bánh xe nghiến trên đường sắt số mệnh. Sự bình yên ít ỏi ở những ga xép sống mãnh liệt hơn sự hãi hùng.
(Trích Ga xép, Lê Minh Khuê, Truyện ngắn đặc sắc Việt Nam từ 1986 đến nay, Đoàn Ánh Dương tuyển chọn và giới thiệu, NXB Phụ nữ, 2013, tr.139-153)
Thực hiện các yêu cầu:
Câu 1. Dựa vào đoạn trích, cho biết tên những "phương trời xa lạ" khiến nhân vật ông Lăng "bâng khuâng".
Câu 2. Chỉ ra một dấu hiệu của truyện ngắn hiện đại được thể hiện trong đoạn trích.
Câu 3. Nêu hiệu quả nghệ thuật của biện pháp tu từ so sánh trong câu văn Chúng con như cái áo phông cái quần bò.
Câu 4. Lí giải những suy nghĩ của ông Lăng khi nghe quan điểm của các con về ngôi nhà và Tổ quốc trong đoạn: Ông lặng thinh. Chúng nó có lí của chúng nó. Nhưng chúng nó đặt ông vào trào lưu áo phông quần bò của chúng, chúng thực tàn nhẫn. Chúng đang giết ông khi chúng phá cái nhà cũ của ông, chúng xách va-li ra đi khi cái chết đang vỗ cánh trên đầu ông.
Câu 5. Nếu là con gái ông Lăng, anh/chị sẽ nói gì với cha khi muốn phá dỡ ngôi nhà cũ (trình bày trong khoảng 5 − 7 dòng).
Hướng dẫn giải:
Câu 1 (0,5 điểm).
Những "phương trời xa lạ" khiến nhân vật ông Lăng "bâng khuâng":
− Khách sạn gần Si-bê-ri/ một cái làng bên sông Amua ở nước Nga.
− Hòn đảo ngoài Thái Bình Dương/ một ngôi làng hẻo lánh gần rừng Amazôn.
− New York.
Câu 2 (0,5 điểm).
− HS chỉ ra một dấu hiệu của truyện ngắn hiện đại được thể hiện trong đoạn trích.
− Gợi ý trả lời:
+ Đề tài: cuộc sống đời thường.
+ Truyện kể theo kết cấu phi tuyến tính.
+ Kết hợp ngôi kể thứ 3 và điểm nhìn linh hoạt.
+ Sử dụng lời nửa trực tiếp.
+ Ngôn ngữ gần với lời ăn tiếng nói hàng ngày.
Câu 3 (1,0 điểm).
Hiệu quả nghệ thuật của biện pháp tu từ so sánh trong câu văn Chúng con như cái áo phông cái quần bò:
− So sánh: chúng con − áo phông, quần bò.
− Tác dụng:
+ Về mặt hình thức: Làm cho câu văn giàu hình ảnh, sống động.
+ Về mặt nội dung: Cụ thể hoá lối sống linh hoạt, coi trọng sự tiện dụng của giới trẻ thời hiện đại.
Câu 4 (1,0 điểm).
− Suy nghĩ của ông Lăng: Vừa đồng tình vừa không đồng tình với các con.
− Lí giải: Vì ông đã già, ông muốn sống trong ngôi nhà cũ bởi đó là nơi lưu giữ biết bao kỉ niệm về những người thân, còn các con ông lại là những người trẻ, hiện đại, suy nghĩ đơn giản nên chưa thấu hiểu hết,...
Câu 5 (1,0 điểm).
− HS trả lời theo quan điểm cá nhân và đưa ra lí giải phù hợp.
− Gợi ý trả lời:
+ Ngôi nhà đã quá cũ kĩ, có thể sập bất cứ lúc nào.
+ Việc xây nhà mới không chỉ là mong muốn của các con, mà còn là cách các con thể hiện tấm lòng hiếu thảo với bố, mong gia đình có cuộc sống đầy đủ, tiện nghi hơn.
Câu 1 (2,0 điểm)
Viết đoạn văn nghị luận (khoảng 200 chữ) phân tích điểm nhìn trần thuật trong đoạn trích ở phần Đọc hiểu.
Câu 2 (4,0 điểm)
Nhiều người cho rằng: Theo đuổi hạnh phúc sẽ không làm bạn hạnh phúc.
Anh/chị hãy viết một bài văn nghị luận (khoảng 600 chữ) bàn về những trở ngại trong hành trình theo đuổi hạnh phúc cá nhân của người trẻ.
Hướng dẫn giải:
Câu 1.
a. Xác định được yêu cầu về hình thức, dung lượng của đoạn văn (0,25 điểm):
Bảo đảm yêu cầu về hình thức và dung lượng (khoảng 200 chữ) của đoạn văn. Thí sinh có thể trình bày đoạn văn theo cách diễn dịch, quy nạp, phối hợp, song song.
b. Xác định đúng vấn đề nghị luận (0,25 điểm):
Phân tích điểm nhìn trần thuật trong đoạn trích Ga xép.
c. Viết đoạn văn đảm bảo các yêu cầu (1,0 điểm):
Lựa chọn được các thao tác lập luận phù hợp, kết hợp chặt chẽ lí lẽ và bằng chứng trên cơ sở đảm bảo những nội dung sau:
− Xác định điểm nhìn trong đoạn trích: Nhìn từ nhân vật ông Lăng, chủ yếu là điểm nhìn bên trong. Điều đó được biểu hiện qua cách diễn đạt ông vẫn cảm thấy, ông thương, ông lúng túng, ông lặng thinh,…
− Phân tích điểm nhìn:
+ Việc lựa chọn điểm nhìn bên trong giúp khắc hoạ rõ nét nhân vật ông Lăng, đặc biệt là chiều sâu nội tâm với những suy nghĩ thầm kín, những trăn trở day dứt và những mong muốn khó giãi bày.
+ Từ điểm nhìn, người đọc có thể nhận ra ông Lăng là một con người từng trải, sống trong nỗi cô đơn, giàu hoài niệm và có tâm hồn sâu sắc.
− Đánh giá: Việc sử dụng điểm nhìn bên trong tạo giọng điệu trần thuật trầm tư, sâu lắng, giàu chất suy ngẫm, từ đó góp phần làm nổi bật chủ đề và ý nghĩa của tác phẩm.
d. Diễn đạt (0,25 điểm):
Đảm bảo chuẩn chính tả, dùng từ, ngữ pháp tiếng Việt, liên kết câu trong đoạn văn.
đ. Sáng tạo (0,25 điểm):
Thể hiện suy nghĩ sâu sắc về vấn đề nghị luận, có cách diễn đạt mới mẻ.
Câu 2.
a. Đảm bảo bố cục và dung lượng của bài văn nghị luận (0,25 điểm):
Bảo đảm yêu cầu về bố cục và dung lượng (khoảng 600 chữ) của bài văn.
b. Xác định đúng vấn đề cần nghị luận (0,5 điểm):
Những trở ngại trong hành trình theo đuổi hạnh phúc cá nhân của người trẻ.
c. Triển khai vấn đề nghị luận (2,0 điểm):
Lựa chọn được các thao tác lập luận phù hợp; kết hợp nhuần nhuyễn lí lẽ và bằng chứng; trình bày được hệ thống ý phù hợp theo bố cục ba phần của bài văn nghị luận. Có thể triển khai theo hướng:
* Mở bài: Giới thiệu vấn đề nghị luận và quan điểm của người viết.
* Thân bài:
− Giải thích:
+ Hạnh phúc cá nhân là trạng thái tâm lí vui vẻ, mãn nguyện khi con người đạt được những điều mình mong muốn trong cuộc sống.
+ Những trở ngại là các khó khăn, thử thách mà người trẻ phải đối mặt trên hành trình theo đuổi hạnh phúc của bản thân.
− Triển khai vấn đề nghị luận:
+ Hạnh phúc cá nhân là đích đến quan trọng của mỗi con người, đặc biệt là với người trẻ trong xã hội hiện đại.
+ Trên hành trình đến với hạnh phúc, người trẻ phải đối diện với nhiều trở ngại: Họ giàu ước mơ, khát vọng nhưng còn non nớt, thiếu kinh nghiệm sống; dễ dao động, thay đổi mục tiêu hoặc bị tác động bởi gia đình, bạn bè và các trào lưu, xu thế xã hội.
+ Cuộc sống ngày càng phức tạp, nhiều áp lực khiến không ít người cảm thấy mệt mỏi, chùn bước, thậm chí từ bỏ việc theo đuổi hạnh phúc của mình.
− Mở rộng vấn đề, trao đổi với quan điểm trái chiều hoặc ý kiến khác: Những khó khăn, trở ngại không chỉ là rào cản mà còn có thể trở thành môi trường thử thách, giúp người trẻ rèn luyện bản lĩnh, tích luỹ kinh nghiệm và trưởng thành hơn để kiên trì theo đuổi hạnh phúc.
− Bài học nhận thức và hành động: Mỗi người cần xác định mục tiêu hạnh phúc một cách đúng đắn, phù hợp với bản thân; đồng thời chuẩn bị đầy đủ về phẩm chất và năng lực để đủ sức vượt qua những trở ngại trên hành trình tìm kiếm và gìn giữ hạnh phúc.
* Kết bài: Khẳng định giá trị, ý nghĩa của vấn đề nghị luận.
Lưu ý: Thí sinh có thể bày tỏ suy nghĩ, quan điểm riêng nhưng phải phù hợp với chuẩn mực đạo đức và pháp luật.
d. Diễn đạt (0,25 điểm):
Đảm bảo chuẩn chính tả, dùng từ, ngữ pháp tiếng Việt, liên kết văn bản.
đ. Sáng tạo (0,5 điểm):
Thể hiện suy nghĩ sâu sắc về vấn đề nghị luận; có cách diễn đạt mới mẻ.