Bài học cùng chủ đề
Báo cáo học liệu
Mua học liệu
Mua học liệu:
-
Số dư ví của bạn: 0 coin - 0 Xu
-
Nếu mua học liệu này bạn sẽ bị trừ: 2 coin\Xu
Để nhận Coin\Xu, bạn có thể:
Đề thi thử của trường THPT Phan Bội Châu (Lần 2) SVIP
I. ĐỌC HIỂU (4,0 điểm)
Đọc văn bản:
MẢNH ĐẤT CỦA NIỀM TIN
(Lê Quang Trạng)
Lược phần đầu: Cha mẹ đặt anh tên Nguyễn Văn Thông nhưng anh có biết chữ nào để “Văn Thông” với đời đâu. Vợ chồng Hai Thông không có một chữ lận lưng, vậy mà có được mấy đứa con thông minh và ham học. Cơn lũ năm trước đã khiến nhà ông rơi vào cảnh nợ nần. Đứa con gái lớn bỏ học, đi làm thuê đỡ đần bố mẹ. Thằng Thái đỗ trường Y được nhưng đứng trước nguy cơ không được đi học. Hai Thông thương con mà bất lực. Vợ đề nghị bán một phần đất tổ tiên để lại, Hai Thông cương quyết không đồng ý, mặt đỏ bừng giận dữ bỏ đi. Hai Thông qua nhà ông giáo Nhân hàng xóm uống rượu, vừa thương con, vừa giận mình…
Đang nhậu, thầy Nhân chợt hỏi anh:
– Chừng nào cháu Thái đi nhập học vậy anh Hai?
Hai Thông nói trong hơi ngà ngà men rượu:
– Tui kêu nó ở nhà luôn rồi thầy ơi! Tiền đâu mà đi học chứ thầy. Mẹ nó mới kêu tui bán đất, tui làm sao mà bán đất được hả thầy?
Thầy Nhân uống hết ly rượu Hai Thông vừa đưa rồi nói:
– Chỗ anh em mình thân với nhau, em nói cái này anh Hai đừng giận em.
– Thầy là người có học, ắt thầy nói ra là đúng lý đời. Thầy cứ dạy, tui nghe. Tui cảm ơn thầy không hết chứ giận hờn gì.
Thầy Nhân từ tốn nói:
– Dạ! Anh Hai nói thế thì em mới dám nói. Anh Hai thấy quê mình là một vùng nông thôn, quanh năm lam lũ với nghề nông mà có ai giàu nổi đâu. Vì sao anh Hai biết không? Vì mình thiếu kiến thức làm nông đó anh. Em thấy cháu Thái ham học và giờ cháu đã thi đậu rồi còn gì. Anh chị nên cho cháu đi học. Nếu thiếu gì, vợ chồng em giúp được thì tụi em sẽ giúp cho. Để sau này cháu về giúp anh chị và còn giúp quê hương mình nữa chứ. Hổng lẽ anh muốn các cháu phải như anh sao?
Nghe thầy Nhân nói xong, Hai Thông uống vội ly rượu cuối với thầy giáo. Từ giã vợ chồng thầy xong, anh bước về nhà.
Vào nhà, uống ngụm trà rồi tắt đèn, vào mùng ngủ. Đêm đó Hai Thông trằn trọc mãi, lăn qua rồi lăn lại. Mười hai giờ khuya rồi, Hai Thông chui ra khỏi mùng. Nằm trên võng đưa kẽo kẹt, vấn điếu thuốc hút. Biết bao ý nghĩ hiện lên trong đầu anh. Vợ Hai Thông và mấy đứa nhỏ nghe tiếng võng đưa biết là anh thức nhưng chẳng ai dám bước ra hỏi lý do như mọi khi. Về đêm, sương xuống lạnh ngắt, căn nhà vắng tanh, Hai Thông cứ nằm đưa võng vậy cho đến sáng. Khói thuốc vẩn vơ vẽ đường vào từng suy nghĩ của anh…
Đưa tay lên xem đồng hồ, đã ba giờ sáng rồi. Hai Thông lúi cúi qua hông nhà, lấy cái bào, bào mấy tấm ván sột soạt.
Sáng sớm, vợ Hai Thông thức nấu cơm, hai đứa nhỏ thức sớm để theo cha ra đồng, nhưng hôm nay Hai Thông vẫn còn ngủ. Thấy cha thức khuya nên hai đứa nhỏ không dám kêu cha dậy mà tự chúng đi ra ruộng trước. Một sự ngỡ ngàng đập vào mắt chúng. Tấm bảng gỗ nằm trên mảnh ruộng đề chữ “Bán đất” – Mọi chi tiết xin liên hệ Hai Thông, nhà kế Trường B, Mỹ Luông”. Ai đã viết cho Hai Thông tấm bảng cắm ở đây? Chiều hôm đó có người đến hỏi mua đất, Hai Thông bán đứt năm công đất. Tiền bạc xong hết, Hai Thông… mang chai rượu sang nhà ông giáo Nhân nhâm nhi để cảm ơn thầy. Còn Thái, vui mừng lộ rõ trên khuôn mặt rạng ngời đến nỗi Thái quên cả việc cảm ơn cha.
Thái tranh thủ đón xe lên Sài Gòn để kịp vào học, rồi mai đây còn Như, thằng Út cũng được học tới nơi tới chốn. Nhà mình sẽ thoát cảnh nợ nần, Thái sẽ về đây công tác, chăm lo sức khoẻ cho bà con quê mình. Chiều nay Hai Thông rửa chiếc xe máy đầm, lạch cạch đèo con ra Chợ. Anh chợt nhớ mới hồi nào anh hớn hở đưa con đi thi. Học sinh giỏi vậy mà nay nó đã lên Sài Gòn học rồi. Đợi con lên xe, xe chạy một đoạn khá xa anh mới ra về. Về tới nhà, Hai Thông lại vác cuốc ra ruộng như thường lệ nhưng anh không đi nữa vì mảnh đất đó đâu còn của anh nữa. Anh bước ra trước nhà đắp lại mấy gốc xoài để mùa nước nổi sắp về dù lũ có dâng cao thì mấy cây xoài vẫn xanh tươi và sẽ ra hoa kết trái vào mùa tới...
Mỹ Luông, ngày 01.12.2011
(Dòng sông không trôi, Lê Quang Trạng, NXB VHVN, 2016, tr.25 – 30.)
Chú thích: Nhà văn trẻ Lê Quang Trạng sinh năm 1996, quê An Giang, đã được trao nhiều giải thưởng văn chương và có các tác phẩm đã xuất bản: “Áp tai vào đất” (tập thơ), “Dòng sông không trôi” (tập truyện ngắn), “Thủ lĩnh băng vịt đồng” (truyện dài thiếu nhi). Lê Quang Trạng vừa góp mặt vào Giải thưởng Văn học Tuổi 20 lần VII với tập truyện ngắn “Việt sáng của bụi” – đó cũng là cuộc thử sức khám phá và thể hiện những giá trị tầng sâu của văn hóa Óc Eo qua văn chương.
Thực hiện các yêu cầu:
Câu 1. Xác định ngôi kể của truyện ngắn trên.
Câu 2. Chỉ ra sự kiện cho thấy bước ngoặt trong lựa chọn của Hai Thông khiến hai đứa con “ngỡ ngàng”.
Câu 3. Anh/chị hiểu như thế nào về cụm từ “mảnh đất của niềm tin” trong truyện?
Câu 4. Nhận xét về nhân vật thầy Nhân qua lời khuyên dành cho Hai Thông.
Câu 5. Từ câu chuyện trên, anh/chị có suy nghĩ gì về vai trò của tri thức trong việc thay đổi số phận con người và quê hương? (trình bày khoảng 5 – 7 dòng)
Hướng dẫn giải:
Câu 1. (0,5 điểm)
Ngôi kể của truyện ngắn: Ngôi thứ ba.
Câu 2. (0,5 điểm)
Sự kiện: Hai Thông cắm bảng bán đất trên ruộng và sau đó bán năm công đất. (hoặc: Hành động bán đất/cắm bảng bán đất.)
Câu 3. (1,0 điểm)
Cụm từ “Mảnh đất của niềm tin” có nghĩa:
– Chỉ mảnh ruộng Hai Thông bán đi để có tiền cho con đi học.
– Niềm tin của Hai Thông vào giá trị của tri thức; niềm tin vào tương lai tốt đẹp hơn của con cái và quê hương.
Câu 4. (1,0 điểm)
– Thầy Nhân khuyên Hai Thông cho con tiếp tục đi học để có thêm kiến thức, giúp gia đình, quê hương,...
– Qua lời khuyên, thầy Nhân hiện lên là người:
+ Có nhận thức tiến bộ, đề cao vai trò của tri thức; có trách nhiệm với cộng đồng, quê hương,...
+ Nhân hậu, chân thành, sẵn sàng giúp đỡ người khác trong lúc khó khăn,...
Câu 5. (1,0 điểm)
– Thể hiện suy nghĩ của bản thân hợp lí, thuyết phục.
(Gợi ý: Câu chuyện cho thấy tri thức là con đường bền vững giúp con người thoát khỏi nghèo khó; tri thức không chỉ thay đổi số phận cá nhân mà còn góp phần phát triển quê hương, cộng đồng; việc đầu tư cho học tập đòi hỏi niềm tin và sự hy sinh, nhưng mang lại giá trị lâu dài,…)
II. VIẾT (6,0 điểm)
Câu 1. (2,0 điểm)
Anh/chị hãy viết đoạn văn nghị luận (khoảng 200 chữ) phân tích ngắn gọn phẩm chất của nhân vật Hai Thông trong truyện ngắn “Mảnh đất của niềm tin” (Lê Quang Trạng).
Câu 2. (4,0 điểm)
Tuổi trẻ vẫn luôn là như thế, biết sẽ đau nhưng vẫn sẽ lao vào, biết sẽ hối hận nhưng vẫn sẽ chấp nhận, biết sẽ không thể quay lại như ban đầu nhưng buộc lòng phải nói ra tất cả những cảm xúc trong lòng. Vì thế người ta mới gọi là “tuổi trẻ”, bởi chính hai chữ “tuổi trẻ” cũng đã đong đầy sự nhiệt huyết rồi.
(Gửi cậu cái ôm vì đã không bỏ cuộc, The Phan Tóc Quăn – Trâm Phan, NXB Hà Nội, 2023, tr.157)
Từ gợi dẫn trên và qua trải nghiệm bản thân, anh/chị hãy viết bài văn nghị luận (khoảng 600 chữ) với chủ đề: “Nhiệt huyết của tuổi trẻ: Sự liều lĩnh hay bản lĩnh?”
Hướng dẫn giải:
Câu 1.
a. Xác định được yêu cầu về hình thức, dung lượng của đoạn văn: (0,25 điểm)
– Bảo đảm yêu cầu về hình thức và dung lượng (khoảng 200 chữ) của đoạn văn.
– Thí sinh có thể trình bày đoạn văn theo một trong các cách: Diễn dịch, quy nạp, phối hợp, song song,...
b. Xác định đúng vấn đề nghị luận: (0,25 điểm)
Phẩm chất của nhân vật Hai Thông trong truyện ngắn “Mảnh đất của niềm tin”.
c. Viết được đoạn văn đảm bảo các yêu cầu: (1,0 điểm)
Lựa chọn được các thao tác lập luận phù hợp, kết hợp chặt chẽ lí lẽ và dẫn chứng trên cơ sở đảm bảo những nội dung sau:
– Hai Thông là người nông dân Nam Bộ nghèo, gắn bó sâu nặng với mảnh đất tổ tiên.
– Hai Thông là người cha yêu thương con, sẵn sàng hi sinh lợi ích cá nhân vì tương lai con cái.
– Hai Thông là người đặt niềm tin vào tri thức, dám thay đổi lựa chọn sống để hướng tới tương lai tốt đẹp hơn.
– Nghệ thuật xây dựng nhân vật: Khắc hoạ qua hành động, chi tiết đời thường, ngôn ngữ mộc mạc, giàu tính biểu cảm,...
d. Diễn đạt: (0,25 điểm)
Bảo đảm chuẩn chính tả, dùng từ, ngữ pháp tiếng Việt, liên kết câu trong đoạn văn.
đ. Sáng tạo: (0,25 điểm)
Thể hiện suy nghĩ sâu sắc về vấn đề nghị luận; có cách diễn đạt mới mẻ.
Câu 2.
a. Bảo đảm bố cục và dung lượng của bài văn nghị luận: (0,25 điểm)
Bảo đảm yêu cầu về bố cục và dung lượng (khoảng 600 chữ) của bài văn.
b. Xác định đúng vấn đề nghị luận: (0,25 điểm)
Nhiệt huyết của tuổi trẻ: Sự liều lĩnh hay bản lĩnh?
c. Viết được bài văn nghị luận bảo đảm các yêu cầu: (3,0 điểm)
Lựa chọn được các thao tác lập luận phù hợp; kết hợp nhuần nhuyễn lí lẽ và dẫn chứng; trình bày được hệ thống ý phù hợp theo bố cục ba phần của bài văn nghị luận. Có thể triển khai theo hướng:
* Mở bài: Giới thiệu vấn đề nghị luận.
* Thân bài:
– Giải thích:
+ Đoạn trích nêu đặc trưng của tuổi trẻ: Giàu nhiệt huyết, dám dấn thân, chấp nhận đau đớn và sai lầm.
+ Nhiệt huyết của tuổi trẻ: Sự say mê, khát vọng hành động vì ước mơ, lý tưởng.
+ Liều lĩnh: Hành động bồng bột, thiếu suy nghĩ, không lường trước hậu quả.
+ Bản lĩnh: Dám dấn thân nhưng có mục tiêu, ý thức và trách nhiệm.
→ Vấn đề đặt ra: Nhiệt huyết của tuổi trẻ là liều lĩnh hay bản lĩnh phụ thuộc vào cách lựa chọn và định hướng hành động của mỗi người.
– Bàn luận: Học sinh đưa ra sự lựa chọn của bản thân; bàn luận hợp lí, thuyết phục dựa trên một số gợi ý sau:
+ Nhiệt huyết tuổi trẻ có thể trở thành liều lĩnh.
(Khi hành động theo cảm xúc nhất thời, thiếu suy nghĩ, thiếu hiểu biết; khi chạy theo trào lưu, thể hiện bản thân cực đoan, bất chấp hậu quả;... → Hệ quả: Thất bại, tổn thương, thậm chí đánh mất cơ hội tương lai.)
+ Nhiệt huyết tuổi trẻ cũng là biểu hiện của bản lĩnh.
(Khi dám theo đuổi ước mơ, chấp nhận khó khăn và thử thách; khi biết cân nhắc, chuẩn bị, học hỏi và chịu trách nhiệm với lựa chọn của mình;... → Nhiệt huyết gắn với bản lĩnh giúp tuổi trẻ trưởng thành, tạo ra giá trị cho bản thân và xã hội.)
+ Nhiệt huyết sẽ trở nên ý nghĩa khi được phát huy đúng cách.
(Tuổi trẻ cần học cách biến nhiệt huyết thành bản lĩnh bằng tri thức, trải nghiệm và sự tỉnh táo; xã hội cần tạo môi trường để tuổi trẻ được thử sức nhưng không mù quáng;...)
– Mở rộng, liên hệ, rút ra bài học:
+ Một bộ phận người trẻ dám liều lĩnh đưa ra quyết định cuộc đời mình khi phụ thuộc hoàn toàn vào sự gợi ý, phân tích của AI. Điều này không chỉ tiềm ẩn nhiều rủi ro do AI chứa đựng thiên kiến/ sai lệch mà còn khiến năng lực tư duy độc lập và ngọn lửa nhiệt huyết dấn thân ngày càng mai một.
+ Sống trong thời đại số, bản lĩnh của tuổi trẻ là dùng nhiệt huyết để chủ động làm chủ công nghệ thay vì sợ hãi; phải liên tục học hỏi và nâng cấp bản thân để không bị đào thải.
+ Bài học: Chủ động khám phá để thấu hiểu bản thân; tích cực rèn luyện năng lực chuyên môn cùng các kĩ năng liên quan trong hành trình theo đuổi ước mơ, khẳng định chính mình;…
d. Diễn đạt: (0,25 điểm)
Bảo đảm chuẩn chính tả, dùng từ, ngữ pháp tiếng Việt, liên kết câu trong đoạn văn.
đ. Sáng tạo: (0,25 điểm)
Thể hiện suy nghĩ sâu sắc về vấn đề nghị luận; có cách diễn đạt mới mẻ.