Bài học cùng chủ đề
Báo cáo học liệu
Mua học liệu
Mua học liệu:
-
Số dư ví của bạn: 0 coin - 0 Xu
-
Nếu mua học liệu này bạn sẽ bị trừ: 2 coin\Xu
Để nhận Coin\Xu, bạn có thể:
Đề kiểm tra học kì 2 (Đề số 7) (CV 7991) SVIP
Đọc văn bản sau:
BÁNH ĐẬU
Chắc nhiều bạn đọc còn nhớ cái thứ bánh đậu Hải Dương, đã nổi tiếng, mà ngày bé, chúng ta thường nhận được do tay bà mẹ đã đi đâu một chuyến xa về? Cái thứ bánh đậu khô, bột nhỏ như phấn, đóng hình vuông, có in dấu một hai chữ triện. Thuở nhỏ, chúng ta thích ăn thức quà ấy lắm, nhưng nếu chúng ta mắc bệnh ho, thì không khỏi lắm lúc bực mình. Miếng bánh vừa bỏ mồm chưa kịp nuốt, một cơn ho đã làm bật ra ngoài như làn khói… Mắt chỉ còn tiếc ngẩn ngơ nhìn.
Bây giờ là thứ bánh đậu Hải Dương ấy không còn nữa. Có lẽ người ta thấy cái bất tiện của bột khô cho các trẻ bé và cho các ông cụ già. Ở Hà Nội, người ta làm một thứ bánh đậu ngon hơn, đó là một thứ bánh đậu ướt, thứ bánh đậu có mỡ. Một thứ bánh để ăn trong khi uống chè tàu, cái vị béo ngọt của bánh rất ăn với cái vị đắng của nước chè.
Đó là thức bánh rất hợp dùng trong lúc thưởng thức ấm chè ngon và tôi lấy làm tiếc rằng sao người ta lại không nghĩ chế ra một vài thứ bánh tương tự như thế nữa; để có đủ bánh mà đặt ra cái lệ "chè bánh" vào quãng năm giờ chiều, như thói tục người Anh. Một tục lệ đáng quý, khiến một ngày đầy đủ hơn, và sau cùng là bánh trái cũng khéo léo và tinh khiết hơn. Cũng là một công việc đáng làm, như sự khuyến khích các mỹ thuật khác trong nước. Bánh đậu ướt ngon nhất là bánh đậu của Hàng Bạc và Hàng Gai. Bây giờ hai phố vẫn cạnh tranh nhau để lấy tiếng, và thêm vào cuộc tranh giành, còn có phố Hàng Đào và phố Hàng Đường nữa. Nào hiệu Ích Nguyên Hàng Gai, hiệu Giu Nguyên và Thanh Hiên Hàng Đường,… Mỗi hiệu đều trình bày một thứ bánh với một hương vị riêng. Ai chiếm giải quán quân bánh đậu? Thật là khó giải quyết. Tôi lần lượt dùng hết chừng ấy thứ, đã ngẫm nghĩ và suy xét nhiều về cái vị ngon trước một chén chè tầu bốc khói. Tôi không có cái kiêu vọng bắt buộc người khác phải theo cái quyết định của mình. Nhưng tôi không khỏi cái sở thích riêng trong việc đó.
Bánh đậu của Ích Nguyên thì thẳng thắn và thực thà, mịn vì đậu ngon nguyên chất. Bánh của Thanh Quang nhiều hương thơm vani, nhưng đường dùng hay loạn soạn, của Giu Nguyên thì ướt vì nhiều mỡ quá; của Cự Hương thì nhạt vị, của Việt Hương thì dẻo quá; tựa như đậu trắng, của Ngọc Anh thì hơi khô khan, của Thanh Hiên thì hơi cứng mình,… Kể về vị ngon, thì mỗi thứ của một hiệu đều có một đặc sắc riêng, đủ để cho người ta chuộng. Nhưng tôi thì ưa thích thứ bánh đậu của Hàng Gai hơn, vì giản dị và mộc mạc. Đậu thì nguyên chất đậu, và hương thơm cũng chỉ là hương riêng của bột đậu xanh. Cho nên bỏ vào mồm thì tan đều, ăn ngẫm nghĩ rồi mới thấy béo, suy xét rồi mới thấy thơm. Cái ông cụ già làm bánh ở hiệu đó có nói chuyện rằng: trước kia, vì theo thời, ông cũng cho thêm hương vani vào bánh. Nhưng các khách hàng quen, trong số đó có vài ông khách hàng già ở ngoại ô, đều yêu cầu nên giữ nguyên hương vị đậu xanh như xưa, và nhà hàng từ đó cứ theo như thế. Đấy thật là một ý kiến hay.
(Thạch Lam, Hà Nội 36 phố phường, NXB Văn học, 2005)
Thực hiện các yêu cầu từ câu 1 đến câu 5.
Câu 1. Xác định phương thức biểu đạt chính của văn bản.
Câu 2. Nêu biện pháp tu từ được sử dụng trong đoạn trích sau: Cái thứ bánh đậu khô, bột nhỏ như phấn, đóng hình vuông, có in dấu một hai chữ triện. Thuở nhỏ, chúng ta thích ăn thức quà ấy lắm, nhưng nếu chúng ta mắc bệnh ho, thì không khỏi lắm lúc bực mình. Miếng bánh vừa bỏ mồm chưa kịp nuốt, một cơn ho đã làm bật ra ngoài như làn khói… Mắt chỉ còn tiếc ngẩn ngơ nhìn.
Câu 3. Phát biểu đề tài và chủ đề của văn bản.
Câu 4. Nhận xét về cái "tôi" của tác giả được thể hiện qua câu văn sau: Kể về vị ngon, thì mỗi thứ của một hiệu đều có một đặc sắc riêng, đủ để cho người ta chuộng.
Câu 5. Qua văn bản, em có suy nghĩ gì về việc giữ gìn hương vị truyền thống trong thời đại ngày nay? (Trình bày trong 5 – 7 dòng)
Hướng dẫn giải:
Câu 1 (0,5 điểm).
Phương thức biểu đạt chính của văn bản: Thuyết minh.
Câu 2 (0,5 điểm).
Biện pháp tu từ được sử dụng trong đoạn trích: So sánh (bột nhỏ như phấn, bật ra ngoài như làn khói).
Câu 3 (1,0 điểm).
– Đề tài: Món bánh đậu − một thức quà đặc trưng trong đời sống ẩm thực Hà Nội.
– Chủ đề: Ca ngợi hương vị tinh tế của bánh đậu, đồng thời bày tỏ sự trân trọng đối với những giá trị ẩm thực truyền thống và nét đẹp văn hoá Hà Nội.
Câu 4 (1,0 điểm).
– HS trả lời theo quan điểm cá nhân và đưa ra lí giải phù hợp.
– Gợi ý trả lời:
+ Cái "tôi" của tác giả hiện lên tinh tế, khách quan và biết trân trọng sự đa dạng của hương vị truyền thống.
+ Tác giả không áp đặt sở thích và quan điểm cá nhân mà giúp bạn đọc thấy được cái hay, cái riêng của từng hàng bánh.
Câu 5 (1,0 điểm).
– HS trả lời theo quan điểm cá nhân và đưa ra lí giải phù hợp.
– Gợi ý trả lời:
+ Giữ gìn hương vị truyền thống giúp chúng ta lưu giữ được những giá trị xưa, như vị thơm ngon, mộc của bánh đậu Hải Dương, một phần đặc sắc trong ẩm thực và đời sống văn hoá Việt Nam.
+ Những hương vị truyền thống không chỉ gợi nhớ lịch sử, phong tục của thế hệ cha ông mà còn tạo sự khác biệt, độc đáo của ẩm thực Việt trước những món ăn hiện đại hay ngoại nhập.
+ Việc gìn giữ hương vị truyền thống cũng thể hiện sự tôn trọng công sức, tâm huyết của thế hệ đi trước đã dày công sáng tạo và trao truyền.
Câu 1. Viết đoạn văn ngắn (khoảng 150 chữ) biểu cảm về tình yêu ẩm thực truyền thống của nhân vật "tôi" trong văn bản ở phần Đọc hiểu.
Câu 2. Viết bài văn nghị luận (khoảng 400 chữ) trình bày suy nghĩ của em về ý nghĩa của việc giữ gìn bản sắc văn hoá dân tộc trong xã hội hiện đại.
Hướng dẫn giải:
Câu 1 (2,0 điểm).
a. Xác định được yêu cầu về hình thức, dung lượng của đoạn văn (0,25 điểm):
– Xác định đúng yêu cầu về hình thức và dung lượng (khoảng 150 chữ) của đoạn văn.
– HS có thể trình bày đoạn văn theo cách diễn dịch, quy nạp, phối hợp, song song.
b. Xác định đúng yêu cầu của kiểu bài (0,25 điểm): Biểu cảm về tình yêu ẩm thực truyền thống của nhân vật "tôi" trong văn bản "Bánh đậu".
c. Đề xuất được hệ thống ý phù hợp để làm rõ vấn đề nghị luận (1,5 điểm):
Xác định được các ý phù hợp để làm rõ vấn đề nghị luận, sau đây là một số gợi ý:
– Nhân vật "tôi" thể hiện tình yêu tha thiết đối với món bánh đậu truyền thống: Những kí ức tuổi thơ gắn với "cái thứ bánh đậu khô, bột nhỏ như phấn" hay cảm giác "mắt chỉ còn tiếc ngẩn ngơ nhìn" khi không được ăn đã gợi lên nỗi nhớ đầy xúc động.
– Tình yêu ẩm thực truyền thống còn thể hiện qua sự trân trọng hương vị mộc mạc, nguyên bản của bánh: Nhân vật "tôi" đặc biệt yêu thích loại bánh "giản dị và mộc mạc", "đậu thì nguyên chất đậu", qua đó thể hiện rõ sự gắn bó với những giá trị truyền thống.
– Không chỉ thưởng thức, "tôi" còn say mê khám phá, so sánh các loại bánh đậu khác nhau, thể hiện sự tinh tế trong cảm nhận ẩm thực và niềm tự hào với nét đẹp văn hoá.
➞ Tình yêu ẩm thực của nhân vật "tôi" gợi sự cảm nhận chân thực về vẻ đẹp của những món ăn truyền thống giản dị mà sâu sắc. Qua đó thêm trân trọng các giá trị văn hoá quê hương và bồi dưỡng ý thức giữ gìn, phát huy những nét đẹp ấy trong cuộc sống.
Câu 2 (4,0 điểm).
a. Xác định được kiểu bài (0,25 điểm):
– Xác định đúng kiểu bài: Nghị luận xã hội (bài văn khoảng 400 chữ).
– Bảo đảm yêu cầu về bố cục của bài viết.
b. Xác định đúng vấn đề cần nghị luận (0,25 điểm):
Ý nghĩa của việc giữ gìn bản sắc văn hoá dân tộc trong xã hội hiện đại.
c. Đề xuất được hệ thống ý phù hợp để triển khai bài viết (3,5 điểm):
– Xác định được các ý chính của bài viết.
– Sắp xếp được các ý hợp lí theo bố cục 3 phần của bài văn nghị luận:
c1. Mở bài:
– Giới thiệu về vấn đề nghị luận.
– Nêu khái quát quan điểm của bản thân về vấn đề.
c2. Thân bài: Đưa ra những luận điểm, lí lẽ, bằng chứng để làm sáng tỏ vấn đề. Sau đây là gợi ý:
* Giải thích: Bản sắc văn hoá dân tộc là những nét riêng, độc đáo của một dân tộc (phong tục, tập quán, trang phục, ẩm thực, ngôn ngữ,…).
* Trình bày ý kiến phản đối, đưa ra lí lẽ và bằng chứng:
– Luận điểm 1: Giữ gìn bản sắc văn hoá giúp bảo tồn những giá trị truyền thống quý báu của dân tộc.
+ Lí lẽ: Bản sắc văn hoá là kết tinh của lịch sử và đời sống tinh thần qua nhiều thế hệ.
+ Bằng chứng:
++ Cố Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng từng nhấn mạnh: "Văn hoá còn thì dân tộc còn, văn hoá mất thì dân tộc mất". Câu nói đã thể hiện rõ vai trò sống còn của văn hoá đối với sự tồn tại của một dân tộc. Chính vì vậy, giữ gìn bản sắc văn hoá chính là bảo vệ cội nguồn và bản sắc riêng của đất nước.
++ Nhiều phong tục, lễ hội truyền thống thể hiện những giá trị tốt đẹp như lòng biết ơn, tinh thần đoàn kết. Những hoạt động này giúp con người hiểu hơn về cội nguồn dân tộc. Nếu không được giữ gìn, các giá trị đó sẽ dần bị mai một theo thời gian.
++ Trang phục, ẩm thực truyền thống, ngôn ngữ,… đều là những yếu tố mang dấu ấn riêng của dân tộc Việt Nam. Những nét đặc trưng này tạo nên sự khác biệt với các quốc gia khác, do đó việc bảo tồn, lưu truyền qua nhiều thế hệ sẽ giúp lưu giữ bản sắc độc đáo của dân tộc.
➞ Giữ gìn bản sắc văn hoá là cách bảo vệ những giá trị truyền thống quý báu.
– Luận điểm 2: Giữ gìn bản sắc văn hoá giúp khẳng định bản lĩnh dân tộc và góp phần phát triển xã hội hiện đại.
+ Lí lẽ: Bản sắc văn hoá là nền tảng để dân tộc hội nhập mà không bị hoà tan.
+ Bằng chứng:
++ Chủ tịch Hồ Chí Minh từng khẳng định: "Văn hoá soi đường cho quốc dân đi". Nhận định của Người đã khẳng định vai trò của văn hoá trong việc định hướng sự phát triển của xã hội. Vì vậy, việc giữ gìn bản sắc văn hoá sẽ giúp dân tộc phát triển đúng hướng trong thời đại hiện đại.
++ Nhiều giá trị văn hoá truyền thống được quảng bá rộng rãi đã góp phần phát triển du lịch và kinh tế. Những hình ảnh về văn hoá Việt Nam thu hút sự quan tâm của bạn bè quốc tế. Điều đó cho thấy bản sắc văn hoá vừa là niềm tự hào, vừa là nguồn lực phát triển.
➞ Giữ gìn bản sắc văn hoá giúp dân tộc phát triển bền vững trong thời đại mới.
* Liên hệ, mở rộng:
– Phê phán những người thờ ơ, chạy theo lối sống lai căng, xem nhẹ giá trị truyền thống.
– Khẳng định: Giữ gìn bản sắc văn hoá của dân tộc nhưng cũng cần chọn lọc, tiếp thu thêm những giá trị văn hoá tiến bộ của thế giới.
c3. Kết bài: Khái quát vấn đề nghị luận, liên hệ bản thân.