Bài học cùng chủ đề
Báo cáo học liệu
Mua học liệu
Mua học liệu:
-
Số dư ví của bạn: 0 coin - 0 Xu
-
Nếu mua học liệu này bạn sẽ bị trừ: 2 coin\Xu
Để nhận Coin\Xu, bạn có thể:

Viết bài văn phân tích một tác phẩm văn học SVIP
VIẾT BÀI VĂN PHÂN TÍCH MỘT TÁC PHẨM VĂN HỌC
I. Hướng dẫn phân tích kiểu văn bản
a. Mở bài
Phân tích bài thơ Rằm tháng Giêng (Nguyên tiêu)
Rằm tháng Giêng là bài thơ viết bằng chữ Hán của Hồ Chí Minh. Tác phẩm dùng nhiều chất liệu thơ Đường nhưng vẫn là một thi phẩm đặc sắc, mang vẻ đẹp, sức sống và tinh thần của thời đại mới. Bài thơ thể hiện tinh thần lạc quan và tình yêu thiên nhiên sâu sắc của Bác.
Trước hết, bài thơ Rằm tháng Giêng hấp dẫn tôi bởi vẻ đẹp của hình thức nghệ thuật. Tác phẩm có vẻ đẹp cổ điển của thơ Đường, thể hiện qua việc sử dụng những chất liệu như vầng trăng, làn nước, bầu trời trong mối quan hệ thống nhất hài hoà. Nguyên tiêu là rằm tháng Giêng, một đêm trăng viên mãn đầu tiên của một năm, một đêm trăng mùa xuân: Kim dạ nguyên tiêu nguyệt chính viên (Đêm nay rằm tháng Giêng, trăng tròn đầy). Câu thơ đầu tiên ghi nhận về thời gian và mở ra cả không gian bát ngát của bầu trời với vầng trăng rằm tròn đầy, viên mãn. Câu thơ thứ hai tiếp nối câu thơ thứ nhất, mở rộng không gian theo chiều dài, chiều rộng, chiều cao, từ mặt nước đến bầu trời: Xuân giang, xuân thuỷ, tiếp xuân thiên (Sông xuân, nước xuân, tiếp nối trời xuân). Ba chữ “xuân” liên tiếp xuất hiện trong một câu thơ nhấn mạnh vẻ đẹp tràn đầy sức sống của mùa xuân. Mùa xuân, sắc xuân, vẻ đẹp tươi mới của xuân xanh dâng lên trên dòng sông, làn nước và cả bầu trời mùa xuân. Phải có đôi mắt tinh tế, lạc quan, yêu đời, trẻ trung mới tạo được một bức tranh mùa xuân đẹp như thế.
Bài thơ còn đặc sắc ở bút pháp chấm phá và "tả cảnh ngụ tình" của thơ Đường. Chỉ một vài nét gợi như một vầng trăng, làn nước, nơi khói sóng thăm thẳm,... nhà thơ đã hoạ nên bức tranh đêm trăng mùa xuân đầy sức sống. Qua đó, người đọc nhận ra tinh thần lạc quan và tình yêu thiên nhiên của thi nhân. Rằm tháng Giêng bộc lộ sự hoà nhập vào thiên nhiên của người chiến sĩ dù cách mạng đang trong tình thế khó khăn.
Mặt khác, sức hấp dẫn của bài thơ còn đến từ chủ đề. Các biện pháp nghệ thuật là chìa khoá để người đọc hiểu được chủ đề của bài thơ: tinh thần lạc quan của người chiến sĩ cách mạng. Hai câu “chuyển”, “hợp” tạo được không khí hiện đại, thời kì kháng chiến chống Pháp nơi chiến khu Việt Bắc của ta. Đây là cuộc họp của Bộ chỉ huy kháng chiến diễn ra tại một thời điểm bí mật, vào tháng Giêng năm 1948, khi lực lượng của chúng ta còn yếu thế, thế lực của giặc đang mạnh. Nhưng sau khi những việc trọng đại đã được giải quyết, con thuyền trở về tràn đầy ánh trăng: Dạ bán quy lai nguyệt mãn thuyền (Nửa đêm trở về, thuyền chở đầy ánh trăng). Nỗi cô đơn và nỗi buồn man mác thường thấy trong thơ Đường đã nhường chỗ cho tư thế ung dung, đĩnh đạc của người chiến sĩ, vì đã thấu triệt quy luật vận động của lịch sử mà có niềm tin vững chắc vào tương lai tươi sáng. Tình cảm của tác giả trong bài thơ có sức lan toả, giúp cho người đọc cảm nhận sâu sắc vẻ đẹp của thiên nhiên đồng thời có niềm tin vào thắng lợi tất yếu của cuộc kháng chiến.
Nhìn chung, Rằm tháng Giêng là bài thơ có sự kết hợp hài hoà, khéo léo giữa chất liệu của thơ Đường với tinh thần của thời đại mới - tinh thần lạc quan cách mạng. Tuy còn nhiều khó khăn, gian khổ, phải đến nơi “khói sóng sâu thẳm” để họp bàn quân cơ trọng đại nhưng khi nhìn thấy vị chỉ huy của cuộc kháng chiến bình tĩnh, ung dung trên con thuyền lướt đi trong đêm trăng rằm lộng lẫy thì mọi người có quyền tin tưởng, lạc quan ở ngày toàn thắng. Sức mạnh tinh thần của Chủ tịch Hồ Chí Minh đã đem lại cho dân tộc ta niềm tin mãnh liệt và sức mạnh to lớn để chiến thắng quân thù.
(Theo Trần Khánh Thành, Giảng văn Văn học Việt Nam Trung học cơ sở,
NXB Giáo dục Việt Nam, 2010)
Trong phần mở bài, người viết đã không
b. Thân bài
* Luận điểm
Phân tích bài thơ Rằm tháng Giêng (Nguyên tiêu)
Rằm tháng Giêng là bài thơ viết bằng chữ Hán của Hồ Chí Minh. Tác phẩm dùng nhiều chất liệu thơ Đường nhưng vẫn là một thi phẩm đặc sắc, mang vẻ đẹp, sức sống và tinh thần của thời đại mới. Bài thơ thể hiện tinh thần lạc quan và tình yêu thiên nhiên sâu sắc của Bác.
Trước hết, bài thơ Rằm tháng Giêng hấp dẫn tôi bởi vẻ đẹp của hình thức nghệ thuật. Tác phẩm có vẻ đẹp cổ điển của thơ Đường, thể hiện qua việc sử dụng những chất liệu như vầng trăng, làn nước, bầu trời trong mối quan hệ thống nhất hài hoà. Nguyên tiêu là rằm tháng Giêng, một đêm trăng viên mãn đầu tiên của một năm, một đêm trăng mùa xuân: Kim dạ nguyên tiêu nguyệt chính viên (Đêm nay rằm tháng Giêng, trăng tròn đầy). Câu thơ đầu tiên ghi nhận về thời gian và mở ra cả không gian bát ngát của bầu trời với vầng trăng rằm tròn đầy, viên mãn. Câu thơ thứ hai tiếp nối câu thơ thứ nhất, mở rộng không gian theo chiều dài, chiều rộng, chiều cao, từ mặt nước đến bầu trời: Xuân giang, xuân thuỷ, tiếp xuân thiên (Sông xuân, nước xuân, tiếp nối trời xuân). Ba chữ “xuân” liên tiếp xuất hiện trong một câu thơ nhấn mạnh vẻ đẹp tràn đầy sức sống của mùa xuân. Mùa xuân, sắc xuân, vẻ đẹp tươi mới của xuân xanh dâng lên trên dòng sông, làn nước và cả bầu trời mùa xuân. Phải có đôi mắt tinh tế, lạc quan, yêu đời, trẻ trung mới tạo được một bức tranh mùa xuân đẹp như thế.
Bài thơ còn đặc sắc ở bút pháp chấm phá và "tả cảnh ngụ tình" của thơ Đường. Chỉ một vài nét gợi như một vầng trăng, làn nước, nơi khói sóng thăm thẳm,... nhà thơ đã hoạ nên bức tranh đêm trăng mùa xuân đầy sức sống. Qua đó, người đọc nhận ra tinh thần lạc quan và tình yêu thiên nhiên của thi nhân. Rằm tháng Giêng bộc lộ sự hoà nhập vào thiên nhiên của người chiến sĩ dù cách mạng đang trong tình thế khó khăn.
Mặt khác, sức hấp dẫn của bài thơ còn đến từ chủ đề. Các biện pháp nghệ thuật là chìa khoá để người đọc hiểu được chủ đề của bài thơ: tinh thần lạc quan của người chiến sĩ cách mạng. Hai câu “chuyển”, “hợp” tạo được không khí hiện đại, thời kì kháng chiến chống Pháp nơi chiến khu Việt Bắc của ta. Đây là cuộc họp của Bộ chỉ huy kháng chiến diễn ra tại một thời điểm bí mật, vào tháng Giêng năm 1948, khi lực lượng của chúng ta còn yếu thế, thế lực của giặc đang mạnh. Nhưng sau khi những việc trọng đại đã được giải quyết, con thuyền trở về tràn đầy ánh trăng: Dạ bán quy lai nguyệt mãn thuyền (Nửa đêm trở về, thuyền chở đầy ánh trăng). Nỗi cô đơn và nỗi buồn man mác thường thấy trong thơ Đường đã nhường chỗ cho tư thế ung dung, đĩnh đạc của người chiến sĩ, vì đã thấu triệt quy luật vận động của lịch sử mà có niềm tin vững chắc vào tương lai tươi sáng. Tình cảm của tác giả trong bài thơ có sức lan toả, giúp cho người đọc cảm nhận sâu sắc vẻ đẹp của thiên nhiên đồng thời có niềm tin vào thắng lợi tất yếu của cuộc kháng chiến.
Nhìn chung, Rằm tháng Giêng là bài thơ có sự kết hợp hài hoà, khéo léo giữa chất liệu của thơ Đường với tinh thần của thời đại mới - tinh thần lạc quan cách mạng. Tuy còn nhiều khó khăn, gian khổ, phải đến nơi “khói sóng sâu thẳm” để họp bàn quân cơ trọng đại nhưng khi nhìn thấy vị chỉ huy của cuộc kháng chiến bình tĩnh, ung dung trên con thuyền lướt đi trong đêm trăng rằm lộng lẫy thì mọi người có quyền tin tưởng, lạc quan ở ngày toàn thắng. Sức mạnh tinh thần của Chủ tịch Hồ Chí Minh đã đem lại cho dân tộc ta niềm tin mãnh liệt và sức mạnh to lớn để chiến thắng quân thù.
(Theo Trần Khánh Thành, Giảng văn Văn học Việt Nam Trung học cơ sở,
NXB Giáo dục Việt Nam, 2010)
Nối để hoàn thiện nội dung luận điểm mà người viết đã triển khai.
- Luận điểm 1
Phân tích bài thơ Rằm tháng Giêng (Nguyên tiêu)
Rằm tháng Giêng là bài thơ viết bằng chữ Hán của Hồ Chí Minh. Tác phẩm dùng nhiều chất liệu thơ Đường nhưng vẫn là một thi phẩm đặc sắc, mang vẻ đẹp, sức sống và tinh thần của thời đại mới. Bài thơ thể hiện tinh thần lạc quan và tình yêu thiên nhiên sâu sắc của Bác.
Trước hết, bài thơ Rằm tháng Giêng hấp dẫn tôi bởi vẻ đẹp của hình thức nghệ thuật. Tác phẩm có vẻ đẹp cổ điển của thơ Đường, thể hiện qua việc sử dụng những chất liệu như vầng trăng, làn nước, bầu trời trong mối quan hệ thống nhất hài hoà. Nguyên tiêu là rằm tháng Giêng, một đêm trăng viên mãn đầu tiên của một năm, một đêm trăng mùa xuân: Kim dạ nguyên tiêu nguyệt chính viên (Đêm nay rằm tháng Giêng, trăng tròn đầy). Câu thơ đầu tiên ghi nhận về thời gian và mở ra cả không gian bát ngát của bầu trời với vầng trăng rằm tròn đầy, viên mãn. Câu thơ thứ hai tiếp nối câu thơ thứ nhất, mở rộng không gian theo chiều dài, chiều rộng, chiều cao, từ mặt nước đến bầu trời: Xuân giang, xuân thuỷ, tiếp xuân thiên (Sông xuân, nước xuân, tiếp nối trời xuân). Ba chữ “xuân” liên tiếp xuất hiện trong một câu thơ nhấn mạnh vẻ đẹp tràn đầy sức sống của mùa xuân. Mùa xuân, sắc xuân, vẻ đẹp tươi mới của xuân xanh dâng lên trên dòng sông, làn nước và cả bầu trời mùa xuân. Phải có đôi mắt tinh tế, lạc quan, yêu đời, trẻ trung mới tạo được một bức tranh mùa xuân đẹp như thế.
Bài thơ còn đặc sắc ở bút pháp chấm phá và "tả cảnh ngụ tình" của thơ Đường. Chỉ một vài nét gợi như một vầng trăng, làn nước, nơi khói sóng thăm thẳm,... nhà thơ đã hoạ nên bức tranh đêm trăng mùa xuân đầy sức sống. Qua đó, người đọc nhận ra tinh thần lạc quan và tình yêu thiên nhiên của thi nhân. Rằm tháng Giêng bộc lộ sự hoà nhập vào thiên nhiên của người chiến sĩ dù cách mạng đang trong tình thế khó khăn.
Mặt khác, sức hấp dẫn của bài thơ còn đến từ chủ đề. Các biện pháp nghệ thuật là chìa khoá để người đọc hiểu được chủ đề của bài thơ: tinh thần lạc quan của người chiến sĩ cách mạng. Hai câu “chuyển”, “hợp” tạo được không khí hiện đại, thời kì kháng chiến chống Pháp nơi chiến khu Việt Bắc của ta. Đây là cuộc họp của Bộ chỉ huy kháng chiến diễn ra tại một thời điểm bí mật, vào tháng Giêng năm 1948, khi lực lượng của chúng ta còn yếu thế, thế lực của giặc đang mạnh. Nhưng sau khi những việc trọng đại đã được giải quyết, con thuyền trở về tràn đầy ánh trăng: Dạ bán quy lai nguyệt mãn thuyền (Nửa đêm trở về, thuyền chở đầy ánh trăng). Nỗi cô đơn và nỗi buồn man mác thường thấy trong thơ Đường đã nhường chỗ cho tư thế ung dung, đĩnh đạc của người chiến sĩ, vì đã thấu triệt quy luật vận động của lịch sử mà có niềm tin vững chắc vào tương lai tươi sáng. Tình cảm của tác giả trong bài thơ có sức lan toả, giúp cho người đọc cảm nhận sâu sắc vẻ đẹp của thiên nhiên đồng thời có niềm tin vào thắng lợi tất yếu của cuộc kháng chiến.
Nhìn chung, Rằm tháng Giêng là bài thơ có sự kết hợp hài hoà, khéo léo giữa chất liệu của thơ Đường với tinh thần của thời đại mới - tinh thần lạc quan cách mạng. Tuy còn nhiều khó khăn, gian khổ, phải đến nơi “khói sóng sâu thẳm” để họp bàn quân cơ trọng đại nhưng khi nhìn thấy vị chỉ huy của cuộc kháng chiến bình tĩnh, ung dung trên con thuyền lướt đi trong đêm trăng rằm lộng lẫy thì mọi người có quyền tin tưởng, lạc quan ở ngày toàn thắng. Sức mạnh tinh thần của Chủ tịch Hồ Chí Minh đã đem lại cho dân tộc ta niềm tin mãnh liệt và sức mạnh to lớn để chiến thắng quân thù.
(Theo Trần Khánh Thành, Giảng văn Văn học Việt Nam Trung học cơ sở,
NXB Giáo dục Việt Nam, 2010)
Phân loại để làm rõ lí lẽ và bằng chứng được người viết sử dụng trong luận điểm 1 của bài viết.
- Nguyên tiêu là rằm tháng Giêng, một đêm trăng viên mãn đầu tiên của một năm, một đêm trăng mùa xuân: "Kim dạ nguyên tiêu nguyệt chính viên" (Đêm nay rằm tháng Giêng, trăng tròn đầy).
- Câu thơ thứ hai tiếp nối câu thơ thứ nhất, mở rộng không gian theo chiều dài, chiều rộng, chiều cao, từ mặt nước đến bầu trời.
- Mùa xuân, sắc xuân, vẻ đẹp tươi mới của xuân xanh dâng lên trên dòng sông, làn nước và cả bầu trời mùa xuân.
- Câu thơ đầu tiên ghi nhận về thời gian và mở ra cả không gian bát ngát của bầu trời với vầng trăng rằm tròn đầy, viên mãn.
Lí lẽ
Bằng chứng
Bấm chọn câu văn nêu chủ đề trong đoạn dưới đây.
Bài thơ còn đặc sắc ở bút pháp chấm phá và "tả cảnh ngụ tình" của thơ Đường. Chỉ một vài nét gợi như một vầng trăng, làn nước, nơi khói sóng thăm thẳm,... nhà thơ đã hoạ nên bức tranh đêm trăng mùa xuân đầy sức sống. Qua đó, người đọc nhận ra tinh thần lạc quan và tình yêu thiên nhiên của thi nhân. Rằm tháng Giêng bộc lộ sự hoà nhập vào thiên nhiên của người chiến sĩ dù cách mạng đang trong tình thế khó khăn.
- Luận điểm 2
Phân tích bài thơ Rằm tháng Giêng (Nguyên tiêu)
Rằm tháng Giêng là bài thơ viết bằng chữ Hán của Hồ Chí Minh. Tác phẩm dùng nhiều chất liệu thơ Đường nhưng vẫn là một thi phẩm đặc sắc, mang vẻ đẹp, sức sống và tinh thần của thời đại mới. Bài thơ thể hiện tinh thần lạc quan và tình yêu thiên nhiên sâu sắc của Bác.
Trước hết, bài thơ Rằm tháng Giêng hấp dẫn tôi bởi vẻ đẹp của hình thức nghệ thuật. Tác phẩm có vẻ đẹp cổ điển của thơ Đường, thể hiện qua việc sử dụng những chất liệu như vầng trăng, làn nước, bầu trời trong mối quan hệ thống nhất hài hoà. Nguyên tiêu là rằm tháng Giêng, một đêm trăng viên mãn đầu tiên của một năm, một đêm trăng mùa xuân: Kim dạ nguyên tiêu nguyệt chính viên (Đêm nay rằm tháng Giêng, trăng tròn đầy). Câu thơ đầu tiên ghi nhận về thời gian và mở ra cả không gian bát ngát của bầu trời với vầng trăng rằm tròn đầy, viên mãn. Câu thơ thứ hai tiếp nối câu thơ thứ nhất, mở rộng không gian theo chiều dài, chiều rộng, chiều cao, từ mặt nước đến bầu trời: Xuân giang, xuân thuỷ, tiếp xuân thiên (Sông xuân, nước xuân, tiếp nối trời xuân). Ba chữ “xuân” liên tiếp xuất hiện trong một câu thơ nhấn mạnh vẻ đẹp tràn đầy sức sống của mùa xuân. Mùa xuân, sắc xuân, vẻ đẹp tươi mới của xuân xanh dâng lên trên dòng sông, làn nước và cả bầu trời mùa xuân. Phải có đôi mắt tinh tế, lạc quan, yêu đời, trẻ trung mới tạo được một bức tranh mùa xuân đẹp như thế.
Bài thơ còn đặc sắc ở bút pháp chấm phá và "tả cảnh ngụ tình" của thơ Đường. Chỉ một vài nét gợi như một vầng trăng, làn nước, nơi khói sóng thăm thẳm,... nhà thơ đã hoạ nên bức tranh đêm trăng mùa xuân đầy sức sống. Qua đó, người đọc nhận ra tinh thần lạc quan và tình yêu thiên nhiên của thi nhân. Rằm tháng Giêng bộc lộ sự hoà nhập vào thiên nhiên của người chiến sĩ dù cách mạng đang trong tình thế khó khăn.
Mặt khác, sức hấp dẫn của bài thơ còn đến từ chủ đề. Các biện pháp nghệ thuật là chìa khoá để người đọc hiểu được chủ đề của bài thơ: tinh thần lạc quan của người chiến sĩ cách mạng. Hai câu “chuyển”, “hợp” tạo được không khí hiện đại, thời kì kháng chiến chống Pháp nơi chiến khu Việt Bắc của ta. Đây là cuộc họp của Bộ chỉ huy kháng chiến diễn ra tại một thời điểm bí mật, vào tháng Giêng năm 1948, khi lực lượng của chúng ta còn yếu thế, thế lực của giặc đang mạnh. Nhưng sau khi những việc trọng đại đã được giải quyết, con thuyền trở về tràn đầy ánh trăng: Dạ bán quy lai nguyệt mãn thuyền (Nửa đêm trở về, thuyền chở đầy ánh trăng). Nỗi cô đơn và nỗi buồn man mác thường thấy trong thơ Đường đã nhường chỗ cho tư thế ung dung, đĩnh đạc của người chiến sĩ, vì đã thấu triệt quy luật vận động của lịch sử mà có niềm tin vững chắc vào tương lai tươi sáng. Tình cảm của tác giả trong bài thơ có sức lan toả, giúp cho người đọc cảm nhận sâu sắc vẻ đẹp của thiên nhiên đồng thời có niềm tin vào thắng lợi tất yếu của cuộc kháng chiến.
Nhìn chung, Rằm tháng Giêng là bài thơ có sự kết hợp hài hoà, khéo léo giữa chất liệu của thơ Đường với tinh thần của thời đại mới - tinh thần lạc quan cách mạng. Tuy còn nhiều khó khăn, gian khổ, phải đến nơi “khói sóng sâu thẳm” để họp bàn quân cơ trọng đại nhưng khi nhìn thấy vị chỉ huy của cuộc kháng chiến bình tĩnh, ung dung trên con thuyền lướt đi trong đêm trăng rằm lộng lẫy thì mọi người có quyền tin tưởng, lạc quan ở ngày toàn thắng. Sức mạnh tinh thần của Chủ tịch Hồ Chí Minh đã đem lại cho dân tộc ta niềm tin mãnh liệt và sức mạnh to lớn để chiến thắng quân thù.
(Theo Trần Khánh Thành, Giảng văn Văn học Việt Nam Trung học cơ sở,
NXB Giáo dục Việt Nam, 2010)
Kéo thả để chỉ ra lí lẽ, bằng chứng được người viết sử dụng trong luận điểm 2.
(Kéo thả hoặc click vào để điền)
Phân tích bài thơ Rằm tháng Giêng (Nguyên tiêu)
Rằm tháng Giêng là bài thơ viết bằng chữ Hán của Hồ Chí Minh. Tác phẩm dùng nhiều chất liệu thơ Đường nhưng vẫn là một thi phẩm đặc sắc, mang vẻ đẹp, sức sống và tinh thần của thời đại mới. Bài thơ thể hiện tinh thần lạc quan và tình yêu thiên nhiên sâu sắc của Bác.
Trước hết, bài thơ Rằm tháng Giêng hấp dẫn tôi bởi vẻ đẹp của hình thức nghệ thuật. Tác phẩm có vẻ đẹp cổ điển của thơ Đường, thể hiện qua việc sử dụng những chất liệu như vầng trăng, làn nước, bầu trời trong mối quan hệ thống nhất hài hoà. Nguyên tiêu là rằm tháng Giêng, một đêm trăng viên mãn đầu tiên của một năm, một đêm trăng mùa xuân: Kim dạ nguyên tiêu nguyệt chính viên (Đêm nay rằm tháng Giêng, trăng tròn đầy). Câu thơ đầu tiên ghi nhận về thời gian và mở ra cả không gian bát ngát của bầu trời với vầng trăng rằm tròn đầy, viên mãn. Câu thơ thứ hai tiếp nối câu thơ thứ nhất, mở rộng không gian theo chiều dài, chiều rộng, chiều cao, từ mặt nước đến bầu trời: Xuân giang, xuân thuỷ, tiếp xuân thiên (Sông xuân, nước xuân, tiếp nối trời xuân). Ba chữ “xuân” liên tiếp xuất hiện trong một câu thơ nhấn mạnh vẻ đẹp tràn đầy sức sống của mùa xuân. Mùa xuân, sắc xuân, vẻ đẹp tươi mới của xuân xanh dâng lên trên dòng sông, làn nước và cả bầu trời mùa xuân. Phải có đôi mắt tinh tế, lạc quan, yêu đời, trẻ trung mới tạo được một bức tranh mùa xuân đẹp như thế.
Bài thơ còn đặc sắc ở bút pháp chấm phá và "tả cảnh ngụ tình" của thơ Đường. Chỉ một vài nét gợi như một vầng trăng, làn nước, nơi khói sóng thăm thẳm,... nhà thơ đã hoạ nên bức tranh đêm trăng mùa xuân đầy sức sống. Qua đó, người đọc nhận ra tinh thần lạc quan và tình yêu thiên nhiên của thi nhân. Rằm tháng Giêng bộc lộ sự hoà nhập vào thiên nhiên của người chiến sĩ dù cách mạng đang trong tình thế khó khăn.
Mặt khác, sức hấp dẫn của bài thơ còn đến từ chủ đề. Các biện pháp nghệ thuật là chìa khoá để người đọc hiểu được chủ đề của bài thơ: tinh thần lạc quan của người chiến sĩ cách mạng. Hai câu “chuyển”, “hợp” tạo được không khí hiện đại, thời kì kháng chiến chống Pháp nơi chiến khu Việt Bắc của ta. Đây là cuộc họp của Bộ chỉ huy kháng chiến diễn ra tại một thời điểm bí mật, vào tháng Giêng năm 1948, khi lực lượng của chúng ta còn yếu thế, thế lực của giặc đang mạnh. Nhưng sau khi những việc trọng đại đã được giải quyết, con thuyền trở về tràn đầy ánh trăng: Dạ bán quy lai nguyệt mãn thuyền (Nửa đêm trở về, thuyền chở đầy ánh trăng). Nỗi cô đơn và nỗi buồn man mác thường thấy trong thơ Đường đã nhường chỗ cho tư thế ung dung, đĩnh đạc của người chiến sĩ, vì đã thấu triệt quy luật vận động của lịch sử mà có niềm tin vững chắc vào tương lai tươi sáng. Tình cảm của tác giả trong bài thơ có sức lan toả, giúp cho người đọc cảm nhận sâu sắc vẻ đẹp của thiên nhiên đồng thời có niềm tin vào thắng lợi tất yếu của cuộc kháng chiến.
Nhìn chung, Rằm tháng Giêng là bài thơ có sự kết hợp hài hoà, khéo léo giữa chất liệu của thơ Đường với tinh thần của thời đại mới - tinh thần lạc quan cách mạng. Tuy còn nhiều khó khăn, gian khổ, phải đến nơi “khói sóng sâu thẳm” để họp bàn quân cơ trọng đại nhưng khi nhìn thấy vị chỉ huy của cuộc kháng chiến bình tĩnh, ung dung trên con thuyền lướt đi trong đêm trăng rằm lộng lẫy thì mọi người có quyền tin tưởng, lạc quan ở ngày toàn thắng. Sức mạnh tinh thần của Chủ tịch Hồ Chí Minh đã đem lại cho dân tộc ta niềm tin mãnh liệt và sức mạnh to lớn để chiến thắng quân thù.
(Theo Trần Khánh Thành, Giảng văn Văn học Việt Nam Trung học cơ sở,
NXB Giáo dục Việt Nam, 2010)
Để làm nổi bật các luận điểm, người viết đã sử dụng những từ ngữ nào? (Chọn 2 đáp án)
c. Kết bài
Phân tích bài thơ Rằm tháng Giêng (Nguyên tiêu)
Rằm tháng Giêng là bài thơ viết bằng chữ Hán của Hồ Chí Minh. Tác phẩm dùng nhiều chất liệu thơ Đường nhưng vẫn là một thi phẩm đặc sắc, mang vẻ đẹp, sức sống và tinh thần của thời đại mới. Bài thơ thể hiện tinh thần lạc quan và tình yêu thiên nhiên sâu sắc của Bác.
Trước hết, bài thơ Rằm tháng Giêng hấp dẫn tôi bởi vẻ đẹp của hình thức nghệ thuật. Tác phẩm có vẻ đẹp cổ điển của thơ Đường, thể hiện qua việc sử dụng những chất liệu như vầng trăng, làn nước, bầu trời trong mối quan hệ thống nhất hài hoà. Nguyên tiêu là rằm tháng Giêng, một đêm trăng viên mãn đầu tiên của một năm, một đêm trăng mùa xuân: Kim dạ nguyên tiêu nguyệt chính viên (Đêm nay rằm tháng Giêng, trăng tròn đầy). Câu thơ đầu tiên ghi nhận về thời gian và mở ra cả không gian bát ngát của bầu trời với vầng trăng rằm tròn đầy, viên mãn. Câu thơ thứ hai tiếp nối câu thơ thứ nhất, mở rộng không gian theo chiều dài, chiều rộng, chiều cao, từ mặt nước đến bầu trời: Xuân giang, xuân thuỷ, tiếp xuân thiên (Sông xuân, nước xuân, tiếp nối trời xuân). Ba chữ “xuân” liên tiếp xuất hiện trong một câu thơ nhấn mạnh vẻ đẹp tràn đầy sức sống của mùa xuân. Mùa xuân, sắc xuân, vẻ đẹp tươi mới của xuân xanh dâng lên trên dòng sông, làn nước và cả bầu trời mùa xuân. Phải có đôi mắt tinh tế, lạc quan, yêu đời, trẻ trung mới tạo được một bức tranh mùa xuân đẹp như thế.
Bài thơ còn đặc sắc ở bút pháp chấm phá và "tả cảnh ngụ tình" của thơ Đường. Chỉ một vài nét gợi như một vầng trăng, làn nước, nơi khói sóng thăm thẳm,... nhà thơ đã hoạ nên bức tranh đêm trăng mùa xuân đầy sức sống. Qua đó, người đọc nhận ra tinh thần lạc quan và tình yêu thiên nhiên của thi nhân. Rằm tháng Giêng bộc lộ sự hoà nhập vào thiên nhiên của người chiến sĩ dù cách mạng đang trong tình thế khó khăn.
Mặt khác, sức hấp dẫn của bài thơ còn đến từ chủ đề. Các biện pháp nghệ thuật là chìa khoá để người đọc hiểu được chủ đề của bài thơ: tinh thần lạc quan của người chiến sĩ cách mạng. Hai câu “chuyển”, “hợp” tạo được không khí hiện đại, thời kì kháng chiến chống Pháp nơi chiến khu Việt Bắc của ta. Đây là cuộc họp của Bộ chỉ huy kháng chiến diễn ra tại một thời điểm bí mật, vào tháng Giêng năm 1948, khi lực lượng của chúng ta còn yếu thế, thế lực của giặc đang mạnh. Nhưng sau khi những việc trọng đại đã được giải quyết, con thuyền trở về tràn đầy ánh trăng: Dạ bán quy lai nguyệt mãn thuyền (Nửa đêm trở về, thuyền chở đầy ánh trăng). Nỗi cô đơn và nỗi buồn man mác thường thấy trong thơ Đường đã nhường chỗ cho tư thế ung dung, đĩnh đạc của người chiến sĩ, vì đã thấu triệt quy luật vận động của lịch sử mà có niềm tin vững chắc vào tương lai tươi sáng. Tình cảm của tác giả trong bài thơ có sức lan toả, giúp cho người đọc cảm nhận sâu sắc vẻ đẹp của thiên nhiên đồng thời có niềm tin vào thắng lợi tất yếu của cuộc kháng chiến.
Nhìn chung, Rằm tháng Giêng là bài thơ có sự kết hợp hài hoà, khéo léo giữa chất liệu của thơ Đường với tinh thần của thời đại mới - tinh thần lạc quan cách mạng. Tuy còn nhiều khó khăn, gian khổ, phải đến nơi “khói sóng sâu thẳm” để họp bàn quân cơ trọng đại nhưng khi nhìn thấy vị chỉ huy của cuộc kháng chiến bình tĩnh, ung dung trên con thuyền lướt đi trong đêm trăng rằm lộng lẫy thì mọi người có quyền tin tưởng, lạc quan ở ngày toàn thắng. Sức mạnh tinh thần của Chủ tịch Hồ Chí Minh đã đem lại cho dân tộc ta niềm tin mãnh liệt và sức mạnh to lớn để chiến thắng quân thù.
(Theo Trần Khánh Thành, Giảng văn Văn học Việt Nam Trung học cơ sở,
NXB Giáo dục Việt Nam, 2010)
Trong phần kết bài, người viết đã thực hiện những yêu cầu nào? (Chọn 3 đáp án)
d. Lưu ý khi viết bài nghị luận phân tích một tác phẩm văn học
Người viết cần đảm bảo những yêu cầu gì khi viết bài phân tích một tác phẩm văn học? (Chọn 3 đáp án)
II. Hướng dẫn quy trình viết
Đề bài: Câu lạc bộ Văn học trường em tổ chức cuộc thi viết với chủ đề "Tác phẩm tôi yêu". Em hãy viết một bài văn nghị luận phân tích một bài thơ mà em yêu thích để tham gia cuộc thi này.
1. Bước 1: Chuẩn bị trước khi viết
- Chọn bài thơ cần phân tích.
- Xác định:
+ Mục đích viết bài.
+ Người đọc bài.
- Tìm tư liệu liên quan.
2. Bước 2: Tìm ý và lập dàn ý
* Tìm ý:
- Xác định:
+ Tên bài thơ.
+ Tên tác giả.
+ Chủ đề của bài thơ.
+ Một vài nét đặc sắc về hình thức nghệ thuật.
* Lập dàn ý
Phân loại các nội dung để làm rõ dàn ý của bài viết phân tích về một tác phẩm văn học.
- Nêu suy nghĩ/cảm xúc về tác phẩm, chia sẻ bài học rút ra cho bản thân.
- Giới thiệu tác phẩm văn học.
- Chỉ ra và phân tích tác dụng một vài nét đặc sắc về hình thức nghệ thuật của tác phẩm.
- Nêu chủ đề của tác phẩm.
- Khẳng định lại chủ đề và giá trị của một vài nét đặc sắc về hình thức nghệ thuật trong tác phẩm.
- Nêu khái quát về chủ đề và một vài nét đặc sắc về hình thức nghệ thuật.
Mở bài
Thân bài
Kết bài
3. Bước 3: Viết bài
- Khi viết bài, cần chú ý:
+ Nêu rõ từng luận điểm.
+ Lần lượt làm rõ luận điểm bằng lí lẽ, bằng chứng trích từ bài thơ.
4. Bước 4: Xem lại và chỉnh sửa, rút kinh nghiệm
Tiêu chí | Đạt | Chưa đạt | |
Mở bài |
- Nêu tên bài thơ, thể loại và tên tác giả (nếu có). - Nêu khái quát các nét đặc sắc của tác phẩm (chủ đề, yếu tố hình thức nổi bật,...). |
||
Thân bài |
- Nêu chủ đề của tác phẩm. - Nêu một số nét đặc sắc về hình thức nghệ thuật của tác phẩm (từ ngữ, hình ảnh, biện pháp tu từ,...) - Phân tích giá trị của một số nét đặc sắc về hình thức nghệ thuật. - Sử dụng các bằng chứng có trong tác phẩm. - Sử dụng các phương tiện để liên kết các ý kiến, lí lẽ, bằng chứng. |
||
Kết bài |
- Khẳng định một vài nét đặc sắc nổi bật của tác phẩm (chủ đề, hình thức nghệ thuật,...) - Nêu suy nghĩ, cảm xúc, trải nghiệm cá nhân, hoặc bài học bản thân rút ra từ tác phẩm. |
||
Diễn đạt | - Viết đúng chính tả, từ vựng, ngữ pháp. |
III. Dàn ý tham khảo
Đề bài: Phân tích bài thơ Cảnh khuya của Hồ Chí Minh.
1. Mở bài
- Tên bài thơ: Cảnh khuya.
- Tên tác giả: Hồ Chí Minh.
2. Thân bài
a. 2 câu đầu: Cảnh thiên nhiên ở chiến khu Việt Bắc trong đêm khuya.
- Trong không gian núi rừng Việt Bắc, âm thanh nổi bật xuất hiện là âm thanh tiếng suối.
+ Tiếng suối được so sánh với “tiếng hát xa” => Tiếng suối trở nên có âm điệu, có tình cảm.
- Bên cạnh âm thanh tiếng suối là hình ảnh ánh trăng.
+ Ánh trăng sáng chiếu xuống mặt đất tạo ra hình thù như những bông hoa.
+ Điệp ngữ "lồng" khiến cảnh vật như đan cài, gắn kết.
b. 2 câu sau: Tâm trạng của nhà thơ trong đêm khuya ở chiến khu Việt Bắc.
- Chân dung nhân vật trữ tình xuất hiện trực tiếp: “Cảnh khuya như vẽ người chưa ngủ”.
+ Hình ảnh “cảnh khuya như vẽ” gợi ra bức tranh thiên nhiên đẹp đẽ.
+ Bác ngồi đấy say mê ngắm nhìn khung cảnh đêm khuya, thiên nhiên và con người tạo nên một bức tranh.
- Lí giải lí do "chưa ngủ" của nhân vật trữ tình:
+ Vì cảnh thiên nhiên quá đỗi đẹp đẽ làm cho tâm hồn người nghệ sĩ bâng khuâng, say đắm.
+ Vì “lo nỗi nước nhà”, lo cho sự nghiệp cách mạng của đất nước, cho cuộc sống của nhân dân nên Bác không thể ngủ.
3. Kết bài
- Khẳng định nét đặc sắc nghệ thuật: Bút pháp lãng mạn, hình ảnh so sánh, điệp ngữ, thể thơ thất ngôn tứ tuyệt,...
- Thông điệp: Tình yêu thiên nhiên và tấm lòng yêu nước, thương dân của Bác.
Bạn có thể đăng câu hỏi về bài học này ở đây