Bài học cùng chủ đề
Báo cáo học liệu
Mua học liệu
Mua học liệu:
-
Số dư ví của bạn: 0 coin - 0 Xu
-
Nếu mua học liệu này bạn sẽ bị trừ: 2 coin\Xu
Để nhận Coin\Xu, bạn có thể:
Đề thi thử của Trường THPT Chuyên Hạ Long SVIP
I. ĐỌC HIỂU (4,0 điểm)
Đọc văn bản sau:
Con sông không bao giờ dừng lại, và vì thế nó chẳng bao giờ chịu trở nên cũ kỹ. Nó luôn luôn chuyển động, luôn luôn được làm mới, nhưng lại vẫn vô cùng ung dung trong sự chuyển động đó. Trên đường đi của mình, nó được chiêm ngắm bờ bãi, núi non, nó nạp vào mình những dòng suối nhỏ, phù sa từ khắp chốn. Nó trở nên phong phú và rộng rãi, tràn đầy sức sống. Trước khi đến nằm cạnh nhà tôi, có lẽ nó đã từng điềm tĩnh chảy qua ghềnh thác lẫn đất bằng, không một chút nao núng. Nhìn vào một dòng sông, tôi cảm thấy bản chất sống động của đời sống, nhưng lại cũng thấy sự điềm tĩnh an nhiên của nội tâm. Trong sự chảy trôi bất tận, sông vẫn là chính nó, không biến động, không chệch hướng.
(...)
Một ngày, tôi chợt nhận ra mình đã đi được quá nửa hành trình cuộc đời. Khi tự hỏi rốt cuộc sự tồn tại của tôi trên trái đất này có ý nghĩa gì, tôi bỗng nhận ra thứ duy nhất mà tôi có thể mang đi, nếu một mai tôi có bước sang thế giới bên kia, không phải là vật chất hay danh vị, mà là toàn bộ trải nghiệm sống động này. Sống rốt cuộc chính là một hành trình học hỏi mà mỗi biến cố ta bắt gặp trên đường đời giống như một bài học để ta hiểu sâu hơn về bản chất của cuộc sống và những chiều kích bên trong của bản thân. Không một cuộc đời nào, dù là một cuộc đời giản dị nhất, trôi qua một cách vô ích. Chúng ta sống trên thế giới này, mỗi người một phận sự, nhưng đều góp phần nhỏ bé của mình vào việc phát hiện những màu vẻ khác nhau của cuộc sống, nhờ đó mà hiểu rõ mình là ai, mình đến với thế giới để làm gì. Và bởi vậy, mỗi khoảnh khắc mà ta đang sống, đều là vô giá.
(Trích Lời tựa, Sống như một dòng sông, Nguyễn Thị Ngọc Minh, NXB phụ nữ Việt Nam 2025, trang 8 – 10)
Thực hiện các yêu cầu:
Câu 1. Xác định luận đề của đoạn trích.
Câu 2. Chỉ ra những hình ảnh mà dòng sông được chiêm ngắm và nạp vào mình trên đường đi.
Câu 3. Trình bày cách hiểu về quan điểm của tác giả nêu ra trong câu văn: Nhìn vào một dòng sông, tôi cảm thấy bản chất sống động của đời sống, nhưng lại cũng thấy sự điềm tĩnh an nhiên của nội tâm.
Câu 4. Nêu tác dụng của biện pháp tu từ so sánh trong câu văn sau: Sống rốt cuộc chính là một hành trình học hỏi mà mỗi biến cố ta bắt gặp trên đường đời giống như một bài học để ta hiểu sâu hơn về bản chất của cuộc sống và những chiều kích bên trong của bản thân.
Câu 5. Anh/chị có đồng tình với ý kiến sau đây của tác giả: Không một cuộc đời nào, dù là một cuộc đời giản dị nhất, trôi qua một cách vô ích không? Lí giải vì sao.
Hướng dẫn giải:
Câu 1. (0, 5 điểm)
Luận đề: Suy ngẫm về ý nghĩa thực sự của cuộc đời; giá trị thực sự của những trải nghiệm, sự học hỏi trên hành trình sống của mỗi người.
Câu 2. (0, 5 điểm)
Những hình ảnh mà dòng sông được chiêm ngắm và nạp mình vào trên đường đi bao gồm:
– Những hình ảnh dòng sông được chiêm ngắm: Bờ bãi, núi non.
– Những hình ảnh dòng sông được nạp mình: Những dòng suối nhỏ, phù sa từ khắp chốn.
Câu 3. (1,0 điểm)
HS nêu cách hiểu về quan điểm của tác giả trong câu văn: “Nhìn vào một dòng sông, tôi cảm thấy bản chất sống động của đời sống, nhưng lại cũng thấy sự điềm tĩnh, an nhiên của nội tâm.”. Gợi ý: Câu văn này thể hiện một cái nhìn sâu sắc về sự cân bằng trong cuộc sống:
– “Bản chất sống động của đời sống”: Dòng sông luôn cuộn chảy, luôn biến đổi không ngừng. Vì thế, qua hình ảnh dòng sông, ta thấy nó cũng giống như cuộc đời đầy rẫy những biến cố và sự kiện này.
– “Sự điềm tĩnh, an nhiên của nội tâm”: Dù bề ngoài, dòng sông có cuộn chảy không ngừng nghỉ nhưng sâu bên trong, cái cốt lõi của dòng sông vẫn không thay đổi, vẫn luôn giữ được sự bình thản. Từ đó, tác giả muốn nhắn nhủ bạn đọc rằng một cuộc đời ý nghĩa chính là một cuộc đời không ngừng vận động, trải nghiệm nhưng bên cạnh đó con người vẫn cần giữ được sự vững vàng, bình yên và bản sắc riêng trong tâm hồn trước những biến động của ngoại cảnh.
Câu 4. (1,0 điểm)
– Biểu hiện: Cuộc sống được so sánh với một hành trình học hỏi mà mỗi biến cố ta bắt gặp trên đường đời giống như một bài học; mỗi biến cố mà ta trải qua được so sánh với bài học.
– Tác dụng:
+ Làm cho câu văn trở nên sinh động, làm tăng sức gợi cảm cho sự diễn đạt giúp cho khái niệm trừu tượng “cuộc sống”, “biến cố” trở nên cụ thể, gần gũi hơn với bạn đọc.
+ Nhấn mạnh ý nghĩa của những khó khăn, thử thách trong cuộc sống giúp bạn đọc thay đổi góc nhìn về những sự cố, rủi ro mà chúng ta gặp trong đời.
+ Thể hiện thái độ sống tích cực, lạc quan; qua đó khuyến khích con người đón nhận mọi sự việc với tâm thế chủ động để có thể hiểu sâu hơn về thế giới và bản thân mình.
Câu 5. (1,0 điểm)
HS bày tỏ quan điểm đồng tình hoặc không đồng tình với ý kiến được đưa ra. Ví dụ: Theo hướng đồng tình: Em hoàn toàn đồng tình với ý kiến trên. Bởi mỗi cá nhân dù đang làm công việc nhỏ bé nhất cũng đang góp phần vận hành xã hội, giúp cho xã hội phát triển. Chẳng hạn như, người lao công giữ đường phố luôn sạch sẽ; người nông dân làm ra hạt gạo;… Vì thế, dẫu ta sống cuộc đời như thế nào, miễn là nó có ích cho cộng đồng thì đó cũng là một cuộc đời quý giá và giàu ý nghĩa.
Câu 1. (2,0 điểm) Viết đoạn văn nghị luận (khoảng 200 chữ) bàn về cách thức để luôn làm mới mình của tuổi trẻ.
Câu 2. (4,0 điểm) Viết bài văn (khoảng 600 chữ) phân tích, đánh giá bài thơ:
Dấu làng
(Vũ Thị Huyền Trang)
Dấu làng tôi nằm dưới gót chân cha
nứt nẻ như ruộng đồng tháng hạn
đỏ quạch màu phèn chua
in vào đời những vết chân quanh co
thăng trầm như bản đồ làng nước
nên chẳng ai mất dấu
dấu một đời bươn chải bôn ba
Dấu làng tôi nằm trên mỗi đường cày
rộng rãi và thẳng thớm
tôi như hạt giống lớn lên trên đường cày đó
dẫu bão giông cũng vẫn ngẩng đầu
Dấu làng tôi nằm trong thổ ngữ bao đời
cất giọng ở đâu là thấy quê ở đó
chẳng phải tại ăn sắn, ăn khoai mà ngọng
chẳng tại uống nước làng, cũng chẳng phải nắng sương
Dấu làng tôi nằm trong khói rạ khói rơm
con muỗm muỗm đậu cong lá lúa
chiều lững thững đàn bò no cỏ
đồi nối đồi ru ngủ những đàn chim...
(Nguồn: Thơ của Vũ Thị Huyền Trang,
http://vannghequandoi.com.vn/, ngày 27/11/2025)
Hướng dẫn giải:
Câu 1. (2,0 điểm)
a. Xác định được yêu cầu về hình thức, dung lượng của đoạn văn: 0,25 điểm
Xác định đúng yêu cầu về hình thức và dung lượng (khoảng 200 chữ) của đoạn văn. Thí sinh có thể trình bày đoạn văn theo cách diễn dịch, quy nạp, phối hợp, móc xích hoặc song hành.
b. Xác định đúng vấn đề cần nghị luận: 0,25 điểm
Cách thức để luôn làm mới mình của tuổi trẻ.
c. Viết được đoạn văn nghị luận đảm bảo các yêu cầu: 1,5 điểm
– Xác định được các ý phù hợp để làm rõ vấn đề nghị luận, sau đây là một số gợi ý:
+ Giải thích vấn đề: “Làm mới mình” không đơn thuần là thay đổi vẻ bề ngoài, mà là quá trình nâng cấp tư duy, bồi đắp tri thức và làm phong phú tâm hồn để trở thành phiên bản tốt hơn của chính mình ngày hôm qua.
+ Những cách để làm mới mình:
++ Trau dồi tri thức và kỹ năng: Không ngừng học hỏi, cập nhật kiến thức mới (ngoại ngữ, công nghệ, kỹ năng mềm) để không bị tụt hậu trong thời đại 4.0. Xem việc học là một hành trình tự thân và suốt đời.
++ Thay đổi tư duy: Rời khỏi “vùng an toàn”, sẵn sàng đón nhận những góc nhìn mới, từ bỏ những định kiến cũ kỹ. Học cách tư duy tích cực và mở lòng với những khác biệt.
++ Dấn thân và trải nghiệm: Đi nhiều hơn, tham gia các hoạt động xã hội, thử sức ở những lĩnh vực mới lạ. Mỗi biến cố hay thất bại đều là một “bài học” để làm mới vốn sống.
++ Nuôi dưỡng tâm hồn và thể chất: Rèn luyện sức khoẻ, đọc sách, thực hành lòng biết ơn hoặc thiền định để giữ cho tâm thế luôn điềm tĩnh, an nhiên trước sóng gió.
+ Ý nghĩa của việc làm mới mình:
++ Giúp tuổi trẻ luôn tràn đầy năng lượng sáng tạo.
++ Tạo ra nhiều cơ hội thành công và sống một cuộc đời ý nghĩa, không hối tiếc.
+ Phản đề: Làm mới mình không có nghĩa là chạy theo xu hướng một cách mù quáng hay đánh mất bản sắc riêng. Điều cốt lõi của việc làm mới mình chính là giúp bản thân trở nên tốt đẹp hơn mà không đánh mất bản sắc riêng.
– Sắp xếp được hệ thống ý hợp lí theo đặc điểm bố cục của kiểu đoạn văn.
Câu 2. (4,0 điểm)
a. Bảo đảm bố cục và dung lượng của bài văn nghị luận: 0,25 điểm
Bảo đảm bố cục và dung lượng của bài văn nghị luận (khoảng 600 chữ).
b. Xác định đúng vấn đề nghị luận: 0,25 điểm
Phân tích, đánh giá bài thơ Dấu làng.
– Xác định được các ý phù hợp để làm rõ vấn đề nghị luận, sau đây là một số gợi ý:
c. Đề xuất được hệ thống ý phù hợp để làm rõ vấn đề nghị luận: 3,5 điểm
c.1. Mở bài: Giới thiệu về bài thơ Dấu làng và tác giả Vũ Thị Huyền Trang.
c.2. Thân bài: Cần triển khai các ý:
– Phương diện nghệ thuật:
+ Nhan đề:
++ Chữ “dấu” gợi lên những vết tích, sự in hằn không dễ phai mờ.
++ Nhan đề “Dấu làng” không chỉ nói về những dấu vết vật lí in trên mặt đất mà còn gợi liên tưởng đến những dấu ấn của quê hương khắc sâu vào cơ thể, giọng nói và tâm hồn con người.
+ Nhân vật trữ tình: Nhân vật trữ tình xưng “tôi” là một người con của quê hương đã trưởng thành, đang nhìn lại và chiêm nghiệm về cội nguồn, dấu ấn của quê hương mình với một cái nhìn đầy yêu thương, trân trọng và thấu hiểu.
+ Mạch cảm xúc: Bài thơ bắt đầu từ những quan sát cụ thể, hữu hình trên thân thể người cha (sự lam lũ) đến sự tự nhận thức về sự trưởng thành của bản thân đến niềm tự hào về dấu ấn riêng của quê hương tồn tại trong những thứ bình dị, gần gũi, mộc mạc (thổ ngữ, khói rơm, khói rạ,…). Như vậy, mạch cảm xúc bắt đầu từ tình thương yêu đến sự trân trọng, nâng niu và tự hào.
+ Những chi tiết tiêu biểu:
++ Những hình ảnh đậm chất chân quê: Tác giả sử dụng những thi liệu quen thuộc của làng quê Việt Nam: phèn chua, ruộng đồng tháng hạn, đường cày, thổ ngữ, khói rạ, con muỗm muỗm,…
++ Từ ngữ giàu sức gợi: đỏ quạch, quanh co, thăng trầm, thẳng thớm,… tạo nên một bức tranh quê vừa có hình khối, vừa có màu sắc và sự vận động.
+ Biện pháp tu từ nổi bật: Điệp cấu trúc: Cụm từ “Dấu làng tôi nằm…” được lặp lại ở đầu mỗi khổ thơ. Đây là biện pháp tu từ chủ đạo không chỉ tạo nên nhịp điệu da diết, khẳng định sự hiện diện của quê hương ở khắp mọi nơi mà còn thể hiện một cái nhìn đầy tinh tế, sâu sắc của tác giả dành cho quê hương mình.
– Phương diện nội dung:
+ Đề tài: Quê hương.
+ Chủ đề: Bài thơ viết về dấu ấn của quê hương trong mọi ngóc ngách của đời sống. Chủ đề này không chỉ tái hiện một hành trình chiêm nghiệm, khẳng định dấu ấn của quê hương trong vạn vật mà còn thể hiện tình yêu quê hương sâu sắc cùng sự gắn bó bền chặt giữa con người với mảnh đất nơi mình sinh ra và lớn lên.
+ Ý nghĩa: Bài thơ nhấn mạnh ý nghĩa của dấu ấn quê hương:
++ Dấu làng nằm trong sự hi sinh của cha ông: Quê hương hiện hữu trong những nhọc nhằn của cha. Đôi bàn chân của cha chính là những dấu vết dẫn lối cho con, để con không bao giờ quên đi sự vất vả mà cha ông đã trải qua để giữ đất, giữ làng.
++ Dấu làng là bệ phóng của sự trưởng thành: Chính những dấu ấn của quê hương, những đường cày thẳng thớm và mảnh đất phèn chua đã nuôi dưỡng ý chí của con người quê hương để họ “dẫu bão giông cũng vẫn ngẩng đầu”.
++ Dấu làng là bản sắc văn hoá: Nhân vật trữ tình khẳng định niềm tự hào về “thổ ngữ” của quê hương mình. Đó không phải là kết quả của thói quen ăn uống hay sinh hoạt mà là kết tinh của linh hồn đất đai thấm vào máu thịt, là dấu hiệu để nhận diện đồng bào, quê hương ở bất cứ đâu.
++ Dấu làng là điểm tựa nuôi dưỡng tâm hồn: Khói rơm, đàn bò, tiếng chim,… chính là không gian yên bình mà quê hương mang lại. Không gian ấy sẽ là nơi vỗ về tâm hồn con người sau những năm tháng bôn ba.
+ Thông điệp:
++ Quê hương không phải là một khái niệm trừu tượng, xa vời mà nó luôn hiện hữu trong từng chi tiết nhỏ của đời sống.
++ Mỗi người cần phải học cách trân trọng quê hương, học cách giữ gìn “dấu làng” của quê hương mình.
– Nhận xét, đánh giá: Có thể nói, tác giả Vũ Thị Huyền Trang đã rất thành công khi sử dụng thể thơ tự do kết hợp với ngôn ngữ thơ mộc mạc, bình dị nhưng lại giàu sức gợi hình, gợi cảm để khơi gợi trong trái tim bạn đọc một tình yêu chân thành dành cho quê hương và sự nhận thức sâu sắc về “dấu làng” tồn tại trong mỗi con người.
c.3. Kết bài: Khẳng định lại giá trị của bài thơ.