Bài học cùng chủ đề
Báo cáo học liệu
Mua học liệu
Mua học liệu:
-
Số dư ví của bạn: 0 coin - 0 Xu
-
Nếu mua học liệu này bạn sẽ bị trừ: 2 coin\Xu
Để nhận Coin\Xu, bạn có thể:
Đề thi thử tốt nghiệp THPT Sở GD và ĐT Đồng Tháp SVIP
I. PHẦN ĐỌC HIỂU (4,0 điểm)
Đọc văn bản sau:
NGƯỜI ĐÁNH TRỐNG TRƯỜNG
Nếu bảo rằng thầy Huân là người thầy tài ba xuất chúng, là ông thầy đứng trên cái thế thượng phong về trí tuệ mà rèn đúc, tạo nên được cả một lớp học trò giỏi giang, trong đó nhiều người trở thành những tên tuổi lẫy lừng, những văn nhân chính khách một thời, thì hoàn toàn không phải. Thầy giáo, nghề dạy học, dẫu có được ưu ái đặc biệt, được tâng cao giá trị đến đâu, thì cũng chỉ là loại trí thức xếp loại hai, tức bậc thứ, nắm giữ các thông tin mật mã, những tri thức loài người biết cả rồi; ông thầy không phát minh. Huống hồ thầy Huân của chúng tôi chỉ là ông giáo cấp tiểu học. Trong hành trình dằng dặc của đời người, thầy chỉ là cái ga xép heo hút mà du khách chúng tôi lướt qua trong thoáng chốc. Thêm nữa, lớp môn đệ của thầy cũng chỉ lèo tèo vài chục đứa trẻ quê mùa, quý mến thầy thì hết mực đấy, nhưng sau này thành nhân thì cũng chỉ là những thân kiếp làng nhàng như thầy; anh chị nào nhờ thời vận hoặc phúc ấm tổ tiên, qua tay thầy rèn cặp mấy năm trời, thành đạt lắm cũng chỉ là anh giáo cấp hai hoặc chị ủy viên thư ký ủy ban xã là cùng, ấy là xét theo phẩm trật trên nẻo đường quan lộc.
Trong mấy chục thầy cô ở chốn học đường góp phần tạo nên chúng tôi, thầy Huân, xét về mặt trí năng, chỉ là một cái bóng nhạt nhoà, dễ bị nhãng quên, giữa các đồng nghiệp của thầy. Nhưng, quan hệ thầy trò, cũng như quan hệ bằng hữu giữa người và người có một đặc thù là người ta không chỉ căn cứ vào cái tài, cái lợi thu được cho cá nhân mà trọng nể, mến mộ nhau; thế nên mới có chuyện để nói.
Cùng về làng tôi dạy học đầu năm 1955, hoà bình mới lập lại đó, ngoài thầy Huân còn có một thầy nữa tên Ngọc Kim. Thầy Ngọc Kim cùng tốt nghiệp sư phạm sơ cấp một khoá svới thầy Huân, nhưng lại là một hình ảnh tương phản hoàn toàn về mọi phương diện với bạn mình. Và, tôi nghĩ, ông trời xem ra rất thích tạo ra các trò chơi oái oăm, ông xếp thầy Ngọc Kim cạnh thầy Huân là cố ý làm nổi bật sự đối nghịch của họ, là để đưa con người trần thế vào một cuộc chơi thách đố trí tuệ chăng?
Thầy Ngọc Kim, cái tên nghe đã sang trọng, người thành thị cao ráo, trắng trẻo tươi tắn, mắt phượng, mày ngài, đẹp như một kép cải lương, bắt thiệp, kín nhẽ, khẩu khiếu linh hoạt khác thường; đã vậy lại còn lắm tài vặt như đàn giỏi, hát hay; còn kẻ khẩu hiệu, vẽ panô cổ động các phong trào trong làng xã thì đến cán bộ phòng văn hoá huyện cũng phải bái phục.
Trong khi ấy, thầy Huân người thấp lùn, vai rộng, chân đi vòng kiềng, mặt sần sùi trứng cá, trông tẽ ngắt tẻ ngơ. Thầy Ngọc Kim là sản phẩm của nền văn minh hiện đại, còn thầy Huân là nguyên khối tự nhiên, cứ như là người ta nhặt thầy từ đồng ruộng ban sơ lên rồi đặt luôn vào ngôi trường này vậy. Thầy lù đù, chậm chạp, thô thấp vụng về và có già lắm. Đường giao tiếp, nói năng của thầy lại càng kém cỏi. Thầy chẳng biết lựa lòng ai. Gặp điều ngang trái là thầy tức tối, đỏ văng cả mặt, có nói thì câu chữ cứ díu lại đến là khổ sở. “Thầy bà gì mà ăn nói cứ như là bị rụt lưỡi, lại lục cục loạc quạc thô lỗ như búa đập đe thế!”. Đã có lần thầy Ngọc Kim quở trách thầy Huân như thế, trước hơn một trăm đứa học trò, giữa buổi chào cờ toàn trường.
(Lược một đoạn: Thầy Ngọc Kim và thầy Huân vì khác nhau về tính cách, lối sống nên xảy ra một số mâu thuẫn.)
Trường có hai lớp. Thầy Ngọc Kim dạy một. Thầy dạy một. Thầy dạy không hay. Giọng thầy trầm trầm, đều đều, không véo von trầm bổng, cũng không hay pha trò hoặc hoa mỹ bóng bẩy như thầy Ngọc Kim, nhưng học trò vẫn thích được học thầy. Ấy là vì thầy tận tâm tận lực với học trò. Tình thương, lòng trắc ẩn và danh dự của kẻ có học là những lý do thường trực khiến thầy đã làm cái gì cũng làm đến nơi đến chốn. Giáo án thầy nắn nót chép đi chép lại cho kỳ không một chữ sai, một dấu tẩy xoá mới thôi. Thuở nhỏ phải gánh gồng nhiều nên bên vai phải thầy bị lệch so với vai trái. Vừa như ngượng với chính mình, vừa muốn đứng trước học trò phải là một hình ảnh toàn bì, cả về thể chất, thầy đã đứng trước gương tập co vai phải lên cho ngang bằng với vai trái đến cả năm trời. Thầy bỏ công nhiều nhất cho việc tập nói. Biết mình hễ xúc động là cuống, là lắp bắp, nên mỗi khi lâm vào cảnh nọ là thầy lập tức đặt tay lên ngực trái, để kìm chế nhịp đập của con tim đang rạo rực. Đồ dùng giảng dạy các môn thầy tự làm lấy hết. Tấm bản đồ thế giới, cái địa bàn, mô hình con chim, con cá, tuy còn sơ sài, nhưng kết tinh thật đầy đủ lòng tận tuỵ của thầy. Nhiều cái thầy quả tốn công tốn sức, thậm chí quá cả cái mức cần thiết.
(Lược một đoạn: Thầy Huân tham gia vào cuộc đấu tranh bài trừ mê tín dị đoan do xã phát động, sau khi chặt cây gạo ở ngôi đền cổ, thầy bị ốm, đi bệnh viện tỉnh gần một năm trời. Thầy không chết. Khi trở về trường học cũ, thầy chỉ được nhận làm công việc đánh trống trường ăn lương hợp đồng. Sau khi nhận được một lá thư gửi đến từ quê nhà, thầy lại bị thiên đầu thống, hỏng mất một con mắt.)
Trở lại với trường học lần thứ hai, thầy Huân vẫn được giữ chân thủ trống của nhà trường. [...] Bây giờ, vào giờ gà lên chuồng, muốn đi đâu, thầy phải cầm một cái đèn dầu, vừa là để soi đường, vừa là để người ta biết mà tránh. Xung quanh thầy, ban ngày ban mặt mà tù mù, tờ mờ như ban đêm. Ấy vậy mà nhiệm vụ đánh trống trường, thầy thực hiện hết sức trọn vẹn. Có nhìn rõ đồng hồ đâu mà trống báo, trống tập hợp, trống vào lớp, trống chuyển tiết, trống tan trường, thầy hạ dùi không sai một giây.
Đặc biệt nữa là tiếng trống của thầy. Nhất là những hồi trống giục. Cùng là âm thanh của da gỗ cộng hưởng trong khoảng không đôn nên bung bật ra ngoài, cũng chỉ là chày dùi thô mộc khua động về thương tình mà sao nó vang lộng, thống thiết mà đa tầng cảm xúc thế! Lúc nó dồn dập tràn đầy khí lực, lúc nó thùng thẳng buồn đứt như một linh hồn đơn côi đang vơ vẩn. Có lúc nó dại dại. Có lúc nó nức nở, gào thét. Có lúc nó như tiếng kêu bi thảm phát tỏa ra từ nỗi lòng bực bội thê thiết. Ôi, tiếng trống, hóa ra nó là một thực thể phân thân của thầy, là ngôn ngữ của thầy, là âm thanh mang hồn thầy đang quằn quại!
Thế là giờ đây qua tiếng trống trường, thầy vẫn còn tồn tại, vẫn hiện diện ở cõi đời này.
(Lược đoạn cuối: Chúng tôi đến thăm thầy, thấy xót xa khi thấy thầy cô độc một thân một mình trong túp lều nhỏ dựng ở góc trường. Sau khi thầy mất, người ta phát hiện ra lá thư ngày trước báo tin quê thầy bị một cơn sóng thần ập vào quét sạch cả nhà cửa, ruộng vườn, vợ con thầy. Hoá ra đó là một trong những nguyên cớ gây nên những cơn đau đầu quái ác của thầy.)
(Ma Văn Kháng¹, Tập truyện ngắn Trăng soi sân nhỏ, NXB Hội Nhà văn, 2014, tr. 112 – 136)
¹ Chú thích: Ma Văn Kháng sinh năm 1936, quê ở Hà Nội, là nhà văn hiện đại Việt Nam nổi tiếng với các tác phẩm Mùa lá rụng trong vườn (tiểu thuyết, 1985), Đám cưới không có giấy giá thú (tiểu thuyết, 1989) và một số truyện ngắn viết về đề tài người thầy như Thầy dạy tư, Người đánh trống trường, Thầy Khiển, Ông Smith và cụ già hàng xóm, Thầy Thế đi chợ bán trứng, Hoa nở vườn đêm, Thầy dạy Toán, Cây bồ kết hoa vàng... Phong cách nghệ thuật của Ma Văn Kháng có sự kết hợp giữa tính hiện thực và tình nhân văn, giữa triết lí và trữ tình; nhà văn luôn quan tâm đến vấn đề giá trị đạo đức giữa biến động lớn lao của thời cuộc.
Thực hiện các yêu cầu:
Câu 1. Xác định dấu hiệu nhận biết ngôi kể của truyện ngắn trên.
Câu 2. Chỉ ra những từ ngữ, hình ảnh miêu tả ngoại hình của thầy Huân trong văn bản.
Câu 3. Phân tích hiệu quả nghệ thuật của biện pháp tu từ điệp ngữ trong các câu văn sau: Đặc biệt nữa là tiếng trống của thầy... Lúc nó dồn dập tràn đầy khí lực, lúc nó thùng thẳng buồn đứt như một linh hồn đơn côi đang vơ vẩn. Có lúc nó dại dại. Có lúc nó nức nở, gào thét. Có lúc nó như tiếng kêu bi thảm phát toả ra từ nỗi lòng bực bội thê thiết.
Câu 4. Chi tiết thầy đã đứng trước gương tập co vai phải lên cho ngang bằng với vai trái đến cả năm trời cho thấy phẩm chất gì của nhân vật thầy Huân?
Câu 5. Từ chủ đề của truyện ngắn trên, anh/chị hãy chia sẻ góc nhìn của mình về sự tận tuỵ của người thầy trong xã hội hiện nay.
Hướng dẫn giải:
I. PHẦN ĐỌC HIỂU (4,0 điểm)
Câu 1. (0,5 điểm)
– Ngôi kể thứ nhất.
– Dấu hiệu nhận biết: Người kể trực tiếp tham gia câu chuyện, sử dụng các đại từ xưng hô như “tôi”, “chúng tôi”.
Câu 2. (0,5 điểm)
Những từ ngữ, hình ảnh miêu tả ngoại hình của thầy Huân: thấp lùn, vai rộng, chân đi vòng kiềng, mặt sần sùi trứng cá, trông tẻ ngắt tẻ ngơ.
(Nêu được 2 chi tiết: 0,25 điểm
Nêu được từ 3 chi tiết trở lên: 0,5 điểm)
Câu 3. (1,0 điểm)
– Biện pháp tu từ điệp ngữ: lúc nổ, có lúc nổ.
– Hiệu quả nghệ thuật:
+ Nhấn mạnh sự đa dạng, biến hoá, ý nghĩa của tiếng trống.
+ Gợi lên nhiều cung bậc cảm xúc chất chứa trong lòng thầy Huân (sôi nổi, buồn bã, nức nở, bi thương).
+ Thể hiện sự thấu hiểu, nỗi thương xót của nhà văn khi lắng nghe được tiếng lòng mâu thuẫn, phức tạp của thầy Huân.
+ Tăng tính biểu cảm, tạo sức hấp dẫn cho đoạn văn.
Câu 4. (1,0 điểm)
– Nội dung chi tiết: diễn tả hành động của thầy Huân đứng trước gương tập co vai phải lên cho ngang bằng với vai trái đến cả năm trời.
– Phẩm chất của nhân vật thầy Huân:
+ Có ý thức tự hoàn thiện bản thân.
+ Tự trọng, luôn muốn xuất hiện trước học trò với hình ảnh đẹp nhất.
+ Giàu nghị lực, kiên trì, tận tuỵ, trách nhiệm với nghề nghiệp của mình.
Câu 5. (1,0 điểm)
– Chủ đề của truyện ngắn: qua cuộc đời thầy Huân, tác giả đã ca ngợi vẻ đẹp của những con người bình dị, âm thầm cống hiến, giàu lòng tận tuỵ và nhân cách cao quý dù phải chịu nhiều thiệt thòi, bất hạnh; đồng thời bày tỏ niềm trân trọng, xót thương trước số phận cô đơn, đau khổ của họ.
– Chia sẻ góc nhìn của bản thân về sự tận tụy của người thầy trong xã hội hiện nay:
+ Sự tận tuỵ của người thầy không chỉ là việc truyền đạt kiến thức, mà còn là sự kiên nhẫn dìu dắt, lặng lẽ quan tâm đến từng học sinh, thậm chí chấp nhận những thiệt thòi để học trò trưởng thành.
+ Không phải lúc nào sự tận tuỵ của người thầy trong xã hội hiện nay cũng được thấu hiểu và trân trọng đúng mức, một thái độ học tập nghiêm túc, một lòng biết ơn chân thành là cách thiết thực để báo đáp lại sự tận tụy của người thầy.
(Học sinh dùng những lí lẽ riêng, miễn là có sức thuyết phục.)
II. PHẦN VIẾT (6,0 điểm)
Câu 1 (2,0 điểm)
Viết đoạn văn nghị luận (khoảng 200 chữ) cảm nhận về nhân vật thầy Huân trong văn bản ở phần Đọc hiểu.
Câu 2 (4,0 điểm)
Trong bài Tương lai cho thế hệ vươn mình, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm cho rằng:
Sự trưởng thành, bền vững, thậm chí vận mệnh của đất nước phụ thuộc rất nhiều vào lực lượng thanh niên và thế hệ trẻ.
(Nguồn: https://baochinhphu.vn/tuong-lai-cho-the-he-vuon-minh-102250324212853694.htm)
Anh/Chị hãy viết bài văn nghị luận (khoảng 600 chữ) với chủ đề: tuổi trẻ và trách nhiệm bảo vệ những con người yếu thế trong xã hội.
Hướng dẫn giải:
II. PHẦN VIẾT (6,0 điểm)
Câu 1 (2,0 điểm)
a. Xác định yêu cầu về hình thức, dung lượng đoạn văn:
Xác định đúng yêu cầu về hình thức, dung lượng đoạn văn (khoảng 200 chữ). Thí sinh có thể trình bày đoạn văn theo cách diễn dịch, quy nạp, phối hợp…
b. Xác định đúng vấn đề cần nghị luận: cảm nhận về nhân vật thầy Huân trong truyện ngắn Người đánh trống trường.
c. Viết đoạn văn đảm bảo các yêu cầu:
Lựa chọn được các thao tác lập luận, kết hợp chặt chẽ lí lẽ và dẫn chứng trên cơ sở bảo đảm những nội dung sau:
– Cảm nhận về nhân vật thầy Huân:
+ Ngoại hình xấu xí, thô kệch, nhạt nhoà, cuộc đời nhiều bất hạnh: bệnh tật, mất mát, cô đơn.
+ Tận tuỵ, trách nhiệm với nghề; có ý thức tự hoàn thiện bản thân; nhân cách cao quý, giàu lòng tự trọng, cống hiến hết mình dù chức phận bé nhỏ.
+ Đại diện cho những con người bé nhỏ, thầm lặng nhưng luôn hết lòng vì học trò.
– Nghệ thuật xây dựng nhân vật: tác giả dùng thủ pháp đối lập tương phản (thầy Huân >< thầy Ngọc Kim), nghệ thuật miêu tả ngoại hình, hành động, tâm lý nhân vật, giọng điệu trầm lắng, day dứt, kết hợp các chi tiết đặc sắc.
– Đánh giá chung: qua nhân vật, nhà văn muốn bày tỏ niềm xót thương trước số phận bất hạnh, cô đơn của những người trí thức có nhân cách, giàu lòng tự trọng, đồng thời thể hiện sự trân trọng với lối sống bình dị, thầm lặng của họ.
d. Diễn đạt: đảm bảo chuẩn chính tả, dùng từ, ngữ pháp tiếng Việt, liên kết câu trong đoạn văn.
đ. Sáng tạo: thể hiện suy nghĩ sâu sắc về vấn đề nghị luận, có cách diễn đạt mới mẻ.
Câu 2. (4,0 điểm)
Bài văn đáp ứng được các yêu cầu sau:
a. Yêu cầu chung: xác định đúng vấn đề nghị luận; đảm bảo yêu cầu về dung lượng và sử dụng bằng chứng.
– Vấn đề nghị luận: tuổi trẻ và trách nhiệm bảo vệ những con người yếu thế trong xã hội.
– Dung lượng: khoảng 600 chữ.
– Bằng chứng: thực tế đời sống.
b. Yêu cầu cụ thể: thí sinh triển khai bài viết theo trình tự hợp lí và sử dụng đúng các kĩ năng nghị luận.
b1. Viết được mở bài và kết bài cho bài văn nghị luận xã hội
– Mở bài: giới thiệu được vấn đề nghị luận.
– Kết bài: khẳng định được vấn đề nghị luận.
b2. Giải thích được vấn đề nghị luận
– Sự trưởng thành, bền vững, vận mệnh của đất nước: là quá trình phát triển toàn diện và lâu dài của quốc gia.
– Tuổi trẻ: là giai đoạn đẹp nhất trong cuộc đời với sức sống và nhiệt huyết cháy bỏng.
– Những con người yếu thế: là những người gặp bất lợi trong cuộc sống do hoàn cảnh và điều kiện cá nhân.
=> Nhấn mạnh tuổi trẻ cần có trách nhiệm bảo vệ những con người yếu thế để đất nước có thể phát triển bền vững, lâu dài.
b3: Phân tích, chứng minh được vấn đề nghị luận
– Phân tích, chứng minh được vì sao tuổi trẻ cần có trách nhiệm bảo vệ những con người yếu thế trong xã hội:
+ Những người yếu thế thường khó tự bảo vệ mình, dễ bị tổn thương, cần sự hỗ trợ, bảo vệ từ cộng đồng, đặc biệt là những người trẻ.
+ Tuổi trẻ là lực lượng đông đảo, giàu sức khỏe, tri thức và nhiệt huyết, có khả năng hành động mạnh mẽ.
– Phân tích, chứng minh được ý nghĩa của vấn đề nghị luận:
+ Đối với người yếu thế: giúp họ được bảo vệ quyền lợi, cải thiện cuộc sống, có cơ hội hoà nhập.
+ Đối với tuổi trẻ: góp phần hoàn thiện nhân cách, bồi dưỡng lý tưởng sống cao đẹp.
+ Đối với xã hội: tạo nên môi trường sống nhân ái, đoàn kết, công bằng, hạn chế bất bình đẳng xã hội.
b4: Mở rộng, nâng cao được vấn đề nghị luận và rút ra bài học
– Mở rộng, nâng cao vấn đề nghị luận:
+ Bảo vệ người yếu thế không chỉ là hành động cá nhân mà cần trở thành ý thức xã hội, văn hoá ứng xử chung.
+ Phê phán một bộ phận người trẻ thờ ơ, vô cảm, chỉ quan tâm đến lợi ích cá nhân, thậm chí có hành vi kỳ thị người yếu thế.
– Rút ra bài học: mỗi người trẻ cần nhận thức rõ trách nhiệm của bản thân với cộng đồng, biết yêu thương, sẻ chia, không thờ ơ trước khó khăn của người khác, dũng cảm lên tiếng trước cái xấu, cái ác, bảo vệ lẽ phải.
b5: Sáng tạo
– Có những ý đột phá, vượt ra ngoài Đáp án nhưng có sức thuyết phục.
– Có cách diễn đạt tinh tế, độc đáo.